Theo các chuyên gia ngành nông nghiệp, trong quá trình canh tác, bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng nếu bị vứt bỏ tùy tiện có thể tồn lưu hóa chất, ảnh hưởng đến đất, nguồn nước và hệ sinh thái. Thay vì bỏ trực tiếp trên ruộng, kênh mương hoặc ven đường, người dân An Giang được hướng dẫn đưa bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật vào các bể chứa tập trung.
Đây là giải pháp đơn giản nhưng có ý nghĩa thiết thực, giúp kiểm soát nguồn chất thải ngay từ nơi phát sinh. Bên cạnh việc xây dựng bể chứa, công tác tuyên truyền, vận động nông dân thu gom và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định cũng được chú trọng. Khi hình thành thói quen phân loại, thu gom chất thải sau sản xuất, người dân không chỉ góp phần giữ gìn cảnh quan nông thôn mà còn từng bước thay đổi phương thức sản xuất theo hướng an toàn, giảm tác động tiêu cực đến môi trường.
Là địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn, chỉ riêng với diện tích sản xuất lúa khoảng 1,3 triệu ha/năm, An Giang phát sinh khoảng 1.300 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng mỗi năm. Đây là nguồn chất thải nguy hại rất lớn, gây ô nhiễm đất, nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, nêu không được thu gom, xử lý đúng theo quy định.
Theo Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh An Giang, trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 81/KH-UBND, từng bước xây dựng hệ thống quản lý chất thải nguy hại đồng bộ trên địa bàn. Hệ thống này bao gồm các khâu từ phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến xử lý chất thải nguy hại.
Đến cuối năm 2025, phần lớn xã, phường và đặc khu trong tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo quản lý bể chứa và chất thải nguy hại, đồng thời xây dựng kế hoạch thu gom, xử lý cụ thể. Qua đó, trách nhiệm của chính quyền cơ sở được xác định rõ hơn, từng bước khắc phục tình trạng bao bì thuốc bảo vệ thực vật bị bỏ lại trên bờ ruộng, kênh, rạch sau mỗi vụ sản xuất.
Sau khi sử dụng, vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật phải được bỏ đúng nơi quy định. (Ảnh minh hoạ).
Một trong những điểm đáng chú ý là An Giang xây dựng quy trình thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật theo 4 bước. Sau khi sử dụng, nông dân đưa chai, lọ, gói thuốc vào các bể chứa chuyên dụng bố trí tại khu vực nội đồng.
Chính quyền cấp xã tổ chức thu gom, vận chuyển về điểm tập kết. Cơ quan chuyên môn kiểm soát khối lượng trước khi bàn giao cho đơn vị có đủ chức năng xử lý, tiêu hủy theo quy định đối với chất thải nguy hại. Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được gần 950 bể chứa bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại nhiều vùng sản xuất tập trung.
Những bể chứa xuất hiện ngay trên các cánh đồng không chỉ tạo nơi tập kết chất thải đúng quy định mà còn góp phần hình thành thói quen mới trong sản xuất, giúp nông dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ngay từ đồng ruộng. Các đơn vị chức năng phải tổ chức thu gom định kỳ tối thiểu hai lần mỗi năm, tránh tình trạng các bể chứa bị quá tải và hạn chế bao bì tồn lưu kéo dài ngoài môi trường. Cùng với đầu tư bể chứa, An Giang đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật.
Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực nông đã tham gia các chương trình thu gom tại nhiều địa phương. Sự đồng hành của doanh nghiệp giúp bổ sung nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý, đồng thời hỗ trợ tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, phân loại và bỏ bao bì đúng nơi quy định. Qua các chương trình này, mỗi năm hàng chục tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được thu gom, đưa khỏi đồng ruộng để xử lý. Tuy nhiên, tại một số địa phương, hoạt động thu gom còn mang tính thời điểm, tập trung vào các đợt phát động bảo vệ môi trường, chưa duy trì thường xuyên.
Sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở, ngành nông nghiệp và đơn vị môi trường có nơi chưa đồng bộ, khiến chất thải từ bể chứa chưa được vận chuyển, xử lý kịp thời. Để khắc phục, An Giang tiếp tục rà soát các vùng sản xuất tập trung, ưu tiên bổ sung bể chứa tại những khu vực còn thiếu và các xã xây dựng nông thôn mới.
Tỉnh đồng thời tăng nguồn lực cho vận chuyển, xử lý bằng công nghệ phù hợp, trong đó có phương pháp đốt trong lò nung ở nhiệt độ cao đối với chất thải nguy hại. Địa phương cũng khuyến khích doanh nghiệp tham gia Quỹ Bảo vệ môi trường, mở rộng các chương trình thu gom theo hướng xã hội hóa, tạo thêm nguồn lực để duy trì hoạt động thường xuyên thay vì chỉ triển khai theo từng đợt.
Thu gom, xử lý rác thải nguy hại góp phần bảo vệ đồng ruộng và môi trường sống của người dân.
Tiêu chí thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sẽ được gắn với đánh giá thi đua hằng năm, đi cùng tăng cường kiểm tra và xử lý các hành vi xả thải không đúng quy định. Từ những bể chứa nhỏ đặt giữa đồng ruộng đến hệ thống vận chuyển, xử lý tập trung, An Giang đang từng bước khép kín chu trình quản lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật.
Khi chất thải nguy hại được đưa ra khỏi đồng ruộng đúng quy trình, môi trường sản xuất được bảo vệ tốt hơn, đồng thời tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp an toàn, trách nhiệm. Việc xây dựng bể chứa và thu gom chất thải nguy hại trên đồng ruộng là bước đi thiết thực trong nỗ lực bảo vệ môi trường nông nghiệp tại An Giang. Những bể chứa giúp giải quyết một vấn đề tồn tại lâu nay: bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng bị vứt bỏ ngay trên đồng ruộng, tiềm ẩn nguy cơ phát tán hóa chất ra đất và nguồn nước.
Để tạo hiệu quả lâu dài, bên cạnh đầu tư hệ thống bể chứa, cơ sở thu gom, cần duy trì việc kiểm tra, vận chuyển và xử lý chất thải đúng quy định. Quan trọng hơn, ý thức của người trực tiếp sản xuất vẫn là yếu tố quyết định. Mỗi chai, lọ, bao bì thuốc được thu gom đúng nơi quy định là thêm một nguồn chất thải nguy hại được đưa ra khỏi đồng ruộng. Từ những hành động nhỏ, An Giang có thể từng bước hình thành nền sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường, bảo vệ tài nguyên đất, nước và sức khỏe cộng đồng. Đây cũng là nền tảng để xây dựng những vùng quê xanh, sạch, an toàn.
Hoàng Quân