Quảng Trị phát triển hệ thống cấp nước sạch đồng bộ, hiện đại

09/09/2026 13:46

MTNN Tỉnh Quảng Trị phát triển hệ thống cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh theo hướng đồng bộ, hiện đại, liên thông, bền vững; bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định, an toàn, liên tục cho người dân, phục vụ hiệu quả yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Theo báo cáo của Sở Xây dựng, hiện toàn tỉnh có 20 nhà máy nước do 3 đơn vị cấp nước đô thị và công nghiệp quản lý, với tổng công suất thiết kế 140.400 m³/ngày đêm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nước sạch đạt hơn 18,15 triệu m³, doanh thu khoảng 190 tỷ đồng; tỷ lệ người dân khu vực đô thị sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 82,1%. Đối với khu vực nông thôn, toàn tỉnh có 303 công trình cấp nước sạch tập trung. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn đạt 64,3%, trong đó 40,4% sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung.

Hiện toàn tỉnh đang triển khai 37 dự án đầu tư hệ thống cấp nước với tổng mức đầu tư hơn 773 tỷ đồng. Giai đoạn 2026 - 2030 và 2030 - 2050, các đơn vị tiếp tục đề xuất thực hiện 64 dự án nhằm mở rộng mạng lưới cấp nước, nâng cấp các nhà máy nước và đầu tư các công trình cấp nước mới. Tỉnh phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ hộ gia đình khu vực đô thị được sử dụng nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 92%; khu vực nông thôn đạt 80%.   

Địa phương này xác định phát triển hệ thống cấp nước sạch là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh trong giai đoạn 2026 - 2030, có ý nghĩa quan trọng đối với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, đồng thời tạo nền tảng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch và xây dựng nông thôn mới.

Đảm bảo nguồn nước sạch là nhiệm vụ quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. 

Quảng Trị phát triển hệ thống cấp nước sạch trên địa bàn theo hướng đồng bộ, hiện đại, liên thông, bền vững; bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định, an toàn, liên tục cho người dân, phục vụ hiệu quả yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển khó khăn về nguồn nước.

Nâng cao hiệu quả khai thác công trình, chất lượng dịch vụ, năng lực quản trị và khả năng chống chịu trước thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và các tác động của biến đổi khí hậu; từng bước hình thành hệ thống cấp nước liên vùng, liên khu vực; bảo đảm an ninh nguồn nước, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đến năm 2030, địa phương này hướng tới mục tiêu tỷ lệ hộ gia đình khu vực đô thị được sử dụng nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 92%; tỷ lệ hộ gia đình khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn đạt 80%; Định hướng đến năm 2050, phấn đấu 100% người dân trên địa bàn tỉnh được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn. 

Để đạt được mục tiêu trên, ngành chức năng tỉnh rà soát, cập nhật quy hoạch, phân vùng và xây dựng định hướng phát triển hệ thống cấp nước: Rà soát, cập nhật đồng bộ định hướng phát triển hệ thống cấp nước trong Quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch khu chức năng và các quy hoạch có liên quan; bảo đảm phù hợp với định hướng phát triễn không gian kinh tế - xã hội, phân bố dân cư, phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế và xây dựng nông thôn mới; 

Xây dựng Đề án cung cấp nước sạch tỉnh giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm cơ sở xác định lộ trình đầu tư, danh mục dự án ưu tiên, phương án huy động nguồn lực và tổ chức triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh; Phân vùng cấp nước, xác định rõ phạm vi phục vụ, nhu cầu sử dụng nước, khả năng khai thác nguồn nước và năng lực của hệ thống cấp nước; hạn chế đầu tư trùng lặp, chồng lấn vùng phục vụ hoặc bỏ trống khu vực có nhu cầu;

Địa phương này ưu tiên khai thác nguồn nước mặt từ các sông, hồ chứa, công trình thủy lợi lớn; quản lý, khai thác hợp lý nguồn nước nhằm phát huy hiệu quả sử dụng tài nguyên nước. Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng cấp nước theo hướng đồng bộ, liên vùng và hiệu quả - Tập trung đầu tư hệ thống cấp nước đồng bộ, hiện đại;

Ưu tiên sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình hiện có; mở rộng mạng lưới cấp nước nhằm phát huy tối đa công suất các nhà máy đang khai thác; Từng bước hình thành các hệ thống cấp nước quy mô lớn, liên vùng, liên khu vực, liên xã; tăng cường kết nối giữa hệ thống cấp nước đô thị với khu vực nông thôn, khu tái định cư, khu kinh tế, khu công nghiệp và các khu vực còn khó khăn trong tiếp cận nước sạch;

Ưu tiên đầu tư tại khu vực chưa có hệ thống cấp nước tập trung, tỷ lệ sử dụng nước sạch thấp, thường xuyên thiếu nước, nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm hoặc xâm nhập mặn; vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, bãi ngang, ven biển và các địa bàn có nhu cầu cấp thiết; lựa chọn giải pháp công nghệ, quy mô công trình phù hợp với điều kiện địa hình, mật độ dân cư và khả năng quản lý, vận hành;

Ưu tiên đầu tư các nhà máy nước có quy mô, công suất phù hợp, có khả năng kết nối với các công trình cấp nước hiện có để hình thành hệ thống cấp nước đồng bộ, liên vùng, nâng cao năng lực và tính an toàn trong cấp nước, như: Nhà máy nước Trấm, Nhà máy nước Kim Phú - Kim Điền, Nhà máy nước An Mã...;

Công tác rà soát, đánh giá hiện trạng công trình cấp nước sinh hoạt được đẩy mạnh triển khai. 

Đồng thời đầu tư mở rộng mạng lưới đường ống, phạm vi phục vụ của các công trình hiện có nhằm khai thác hiệu quả công suất, đưa nước sạch đến các khu vực lân cận còn khó khăn về nguồn nước sinh hoạt như: Mở rộng phạm vi cấp nước của Nhà máy nước Tân Lương, Công trình cấp nước ODA Quảng Trạch để cấp nước cho xã Tân Gianh và các khu vực có nhu cầu. Bảo đảm an ninh nguồn nước, cấp nước an toàn và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương tăng cường quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo hướng bền vũng, đa mục tiêu trong đó ưu tiên bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt cho người dân; ưu tiên khai thác nguồn nước mặt từ các hồ chứa, công trình thủy lợi lớn có trữ lượng và chất lượng ổn định; khai thác hợp lý nguồn nước dưới đất và từng bước giảm phụ thuộc vào các nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm hoặc khó kiểm soát chất lượng;

Rà soát, chủ động bố trí nguồn nước dự phòng, tăng khả năng kết nối và hỗ trợ giữa các hệ thống; tổ chức thực hiện đầy đủ kế hoạch cấp nước an toàn; xây dựng phương án bảo đảm cấp nước trong điều kiện hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm nguồn nước, mất điện, sự cố công trình hoặc các tình huống bất thường; Xác định, công bố và quản lý vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; tăng cường quan trắc, cảnh báo sớm, kiểm soát nguồn xả thải và bảo vệ khu vực khai thác nước nhằm giảm thiểu rủi ro gián đoạn cấp nước và bảo đảm chất lượng nguồn nước lâu dài.

Nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành công trình và quản lý tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước: Rà soát, đánh giá, phân loại các công trình cấp nước sạch tập trung, nhất là công trình khu vực nông thôn hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động; lựa chọn phương án phù hợp như sửa chữa, nâng cấp, kết nối với hệ thống khác, chuyển đổi mô hình quản lý, chuyển giao hoặc xử lý tài sản theo quy định;

Lựa chọn các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống cấp nước có đủ năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và năng lực tài chính; từng bước chuyên nghiệp hóa công tác quản lý, vận hành các công trình cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, thống nhất, nâng cao hiệu quả khai thác và chất lượng cung cấp dịch vụ; Hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch; tăng cường kiểm kê, bảo trì, bảo vệ công trình, quản lý hồ sơ và xử lý kịp thời các trường hợp xuống cấp, lấn chiếm, mất an toàn hoặc sử dụng tài sản kém hiệu quả.

Từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành cấp nước; số hóa thông tin về nguồn nước, công trình, mạng lưới, vùng phục vụ, công suất, sản lượng, khách hàng, chất lượng nước, tài sản và dự án đầu tư để phục vụ quản lý, theo dõi và ra quyết định; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ số và tự động hóa trong quản lý, giám sát và vận hành hệ thống cấp nước; khuyến khích ứng dụng GIS, SCADA, giám sát tự động lưu lượng, áp lực, chất lượng nước, phân vùng mạng lưới, đồng hồ thông minh và các công nghệ phát hiện rò rỉ; ưu tiên áp dụng tại các hệ thống quy mô lớn và khu vực có tỷ lệ thất thoát cao./.

 

Thu Trà 

 

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/quang-tri-phat-trien-he-thong-cap-nuoc-sach-dong-bo-hien-dai.html

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Nhiều điểm mới trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo

Thực tiễn cho thấy ô nhiễm từ đất liền ra biển, rác thải biển, sự cố môi trường, ô nhiễm dầu, sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu, suy thoái hệ sinh thái và các rủi ro tại vùng bờ ngày càng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý. Dự thảo dành một chương với 20 điều về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, tập trung vào kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động trên biển, đất liền và xuyên biên giới.

Bạn đọc quan tâm

Mới nhất
Xem nhiều nhất
Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com