Ngành nông nghiệp không chỉ dừng lại ở những con số tỷ USD kim ngạch, mà đang hướng tới xây dựng một nền sản xuất dựa trên giá trị, bền vững về môi trường và thịnh vượng cho người dân khu vực nông thôn. Với sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và sự năng động của doanh nghiệp, mục tiêu 74 tỷ USD trong năm 2026 là hoàn toàn khả thi, tiếp tục khẳng định vị thế quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.
Thành công của nông nghiệp Việt Nam không chỉ đến từ sản xuất mà còn từ chiến lược đa dạng hóa thị trường và chuẩn hóa chất lượng. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất chiếm 28,4% thị phần, trong khi xuất khẩu sang châu Âu tăng lên 11,6% nhờ tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.
Công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đã trở thành "giấy thông hành" thiết yếu. Tính đến tháng 5/2026, cả nước đã có hơn 9.540 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói. Việc Trung Quốc xem xét cấp thêm hàng trăm mã số mới cho sầu riêng và các loại trái cây khác đang tạo ra dư địa tăng trưởng khổng lồ cho những tháng cuối năm.
Hạn hán, ngập lụt tác động lớn đến kết tăng trưởng ngành nông nghiệp. Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu 74 tỷ USD, nông nghiệp vẫn đối mặt với không ít thách thức từ thiên tai và áp lực "chuyển đổi xanh" từ các thị trường khó tính. Biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, thiên tai (hạn hán, mưa bão, lũ lụt..) bất thường, thêm vào đó là các quy định khắt khe về giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc (như quy định EUDR của châu Âu đối với cà phê) đòi hỏi nông dân và doanh nghiệp phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng bền vững hơn.
Được biết, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tập trung triển khai 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Đó là (1) Thích ứng biến đổi khí hậu, theo dõi sát diễn biến khí tượng, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ và phát triển các bộ giống chịu hạn, mặn. (2) Tối ưu hóa hạ tầng, đầu tư mạnh vào hệ thống thủy lợi, tưới tiết kiệm và đặc biệt là hệ thống logistics lạnh để bảo quản nông sản tươi. (3) Chế biến sâu và thương hiệu, chuyển dịch mạnh mẽ từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm tinh chế có giá trị gia tăng cao, phát triển thương mại điện tử nông sản. (4) Liên kết chuỗi giá trị, thúc đẩy mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông hộ thông qua các hợp tác xã để đảm bảo nguồn cung ổn định và chất lượng đồng nhất. (5) Khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý vùng trồng và dự báo thị trường để điều tiết sản xuất linh hoạt theo tín hiệu cầu của thế giới.
Các chuyên gia nông nghiệp nhận định, nông nghiệp Việt Nam đang ở bước ngoặt quan trọng: chuyển từ tư duy sản xuất (chú trọng năng suất, sản lượng) sang tư duy kinh tế nông nghiệp (tối ưu hóa giá trị và quản trị rủi ro). Những đứt gãy trong chuỗi cung ứng như hiện tượng thương lái "bỏ cọc" thực chất là biểu hiện của một hệ thống liên kết lỏng lẻo, thiếu năng lực tổ chức thị trường hiện đại và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Để đạt được mục tiêu đề ra, nông nghiệp cần xây dựng một hệ sinh thái ngành hàng toàn diện. Hệ sinh thái này yêu cầu sự tham gia chặt chẽ của doanh nghiệp chế biến, logistics, ngân hàng, nhà khoa học và các hiệp hội để cùng điều phối thông tin, minh bạch dữ liệu và giảm sốc trước các biến động khó lường của thị trường toàn cầu.
Cốt lõi của sự chuyển đổi là hình thành lực lượng "nông dân chuyên nghiệp". Đây là những người sản xuất có tổ chức, hiểu biết về hợp đồng, tiêu chuẩn quốc tế và quản trị rủi ro thay vì sản xuất đơn lẻ. Trong đó, các hợp tác xã hiện đại đóng vai trò là trung tâm điều phối chất lượng và kết nối thị trường, tạo nên sức mạnh nội tại cho cộng đồng người sản xuất.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp đạt con số kỷ lục (70,09 tỷ USD), vượt xa kế hoạch đề ra trước đó là 65 tỷ USD. Kết quả này cho thấy vị thế “trụ đỡ” vững chắc của ngành trước mọi thách thức, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển xanh theo hướng bền vững. Năm 2026, nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu từ 73-74 tỷ USD nông sản. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 29,82 tỷ USD, tăng 6,1%.
LÝ LAN