Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau, chương trình quan trắc chất lượng không khí trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã được thiết lập và duy trì liên tục trên địa bàn toàn tỉnh Cà Mau mới từ năm 2015 đến nay. Trong đó, để giám sát các nguồn khí thải lớn, tỉnh đã lắp đặt hệ thống tiếp nhận - truyền dữ liệu quan trắc tự động khí thải và đã kiểm soát được dữ liệu quan trắc tự động của 2/2 cơ sở là Nhà máy điện Cà Mau (06/06 trạm quan trắc khí thải tự động) và Nhà máy sản xuất phân Đạm Cà Mau (03/03 trạm).
Đối với hoạt động giám sát khí thải nguồn giao thông: Bên cạnh mạng lưới quan trắc định kỳ với 15 vị trí quan trắc tác động nguồn giao thông thuộc mạng lưới quan trắc của tỉnh; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện chuyển đổi năng lượng xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới triển khai thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát thải từ nguồn giao thông trong giai đoạn tới.
Đối với hoạt động giám sát khí thải nguồn diện: Tổ chức các đợt tuyên truyền, hướng dẫn người dân hạn chế đốt đồng, đốt rơm rạ sau thu hoạch, áp dụng các biện pháp xử lý nông sản còn sót lại như ủ phân hữu cơ. Đối với nguồn đốt rác hở, người dân trên địa bàn được khuyến khích thu gom, xử lý rác thải tập trung, xóa bỏ dần các bãi rác tạm, hạn chế hoạt động đốt rác vườn. Đối với xử lý chất thải chăn nuôi, thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn các hộ dân xử lý chất thải bằng khí sinh học hoặc dùng phế phẩm sinh học.
Ngoài ra, tỉnh tăng cường các hoạt động bảo vệ chất lượng môi trường không khí thông qua các hoạt động trồng và bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học - hiện tại tỷ lệ che phủ rừng đạt 17,6%; Điều tra, đánh giá nguồn ô nhiễm, lượng chất thải từ các hoạt động sản xuất thủy sản và đề xuất giải pháp quản lý; Điều tra, đánh giá, xác định vị trí, ranh giới của vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Cà Mau hướng tới mục tiêu xử lý rác thải bằng công nghệ hiện đại, nhằm hạn chế phát thải.
Mặc dù đã triển khai đồng bộ giải pháp, song tỉnh chưa thực hiện đầu tư lắp đặt và vận hành các trạm quan trắc tự động chất lượng không khí, vì vậy cũng chưa có phương án công khai và cập nhật dữ liệu quan trắc, cảnh báo chất lượng không khí kịp thời tới người dân.
Một số hạng mục khác thuộc nhiệm vụ quản lý chất lượng không khí theo quy định hiện đang chưa được triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh Cà Mau, bao gồm: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, khuyến khích các doanh nghiệp thay đổi các thiết bị lạc hậu tốn nhiều năng lượng và phát sinh nguồn khí thải; kiểm kê nguồn khí thải và thống kê dữ liệu định kỳ hàng năm về tình hình kiểm soát xử lý khí thải tại các cơ sở.
Nguồn nhân lực quản lý môi trường tại cấp xã - nơi trực tiếp theo dõi và triển khai các hoạt động thực tế vẫn còn khá mỏng và kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau. Điều này khiến việc cập nhật, báo cáo và xử lý các vấn đề phát sinh đối với môi trường nói chung và đối với môi trường không khí nói riêng gặp nhiều khó khăn, chưa được chú trọng và xử lý kịp thời, phù hợp.
Theo ước tính hiện nay, khí CO phát sinh từ các nguồn thải đã chiếm đến 92% tổng tải lượng bụi, khí thải trên địa toàn bàn tỉnh, NO2 chiếm khoảng 5%, bụi chiếm khoảng 2,7% và SO2 chiếm 0,3%. Nguồn CO chủ yếu đến từ hoạt động giao thông đường bộ (chiếm 95,8%), phát sinh từ quá trình đốt nhiên liệu hoá thạch (xăng, dầu DO) trong động cơ phương tiện giao thông. Đây là nguồn thải có tiềm năng gây ô nhiễm CO lớn nhất đối với môi trường không khí trên địa bàn tỉnh.
Trong khi đó nguồn đóng góp tải lượng bụi lớn nhất là ngành chăn nuôi (chiếm 59%). Hoạt động chăn nuôi, bụi chủ yếu phát sinh từ các công đoạn như vận chuyển, lưu trữ, phối trộn thức ăn; vệ sinh chuồng trại (quét dọn, thay chất độn, dọn phân, xịt rửa chuồng) và từ chất thải của vật nuôi (phân, lông). Bụi trong chăn nuôi thường có kích thước lớn, dễ lắng và chủ yếu phát thải cục bộ trong khu vực chăn nuôi, không lan tỏa ra xung quanh.
Trước tình hình trên, thời gian tới tỉnh tăng cường công tác quản lý chất lượng môi trường không khí thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải khí và bụi, đặc biệt tại các khu vực đô thị và nút giao thông tập trung; hoàn thiện hệ thống quan trắc, giám sát và dự báo chất lượng môi trường không khí nhằm ngăn ngừa và ứng phó kịp thời các tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và môi trường không khí, hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Đến năm 2030, tiếp tục duy trì và tăng cường bảo vệ tốt chất lượng môi trường không khí, đảm bảo không có phát sinh vị trí quan trắc giám sát không khí xung quanh vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành. Rà soát xây dựng hoàn thiện mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường không khí đảm bảo kiểm soát toàn diện các tác động từ các nguồn phát sinh khí thải chủ yếu trên địa bàn tỉnh.
Nghiên cứu đầu tư lắp đặt và đưa vào vận hành ít nhất 02 trạm quan trắc không khí tự động trên địa bàn tỉnh. Kết hợp hệ thống công bố tự động các chỉ tiêu chất lượng môi trường không khí hàng ngày nhằm tăng cường công tác cảnh báo, dự báo chất lượng không khí xung quanh tại các khu vực đô thị và các khu vực tập trung nhiều nguồn thải.
Đảm bảo 100% các chủ nguồn thải thuộc đối tượng lắp quan trắc khí thải tự động phải đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc khí thải tự động và truyền dữ liệu quan trắc trực tiếp, liên tục về Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh. Đảm bảo 100% chủ nguồn thải thuộc nhóm đối tượng thực hiện quan trắc định kỳ phải thực hiện quan trắc giám sát khí thải theo đúng quy định hiện hành.
Tăng cường giám sát hoạt động của các lò hỏa táng trên địa bàn tỉnh, bảo đảm khí thải đầu ra đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Đảm bảo 100% cơ sở, hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường (đảm bảo theo Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề tỉnh Cà Mau).
Đảm bảo 100% các công trường thi công xây dựng được quản lý chặt chẽ; các biện pháp bảo vệ môi trường, che chắn, rửa xe công trường được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm đúng quy định; 100% chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng được quản lý chặt chẽ theo quy định. Chấm dứt hoàn toàn hoạt động đốt rác và đốt phụ phẩm nông nghiệp. Hướng tới phụ phẩm trong sản xuất trồng trọt được tái sử dụng, tái chế bằng biện pháp phù hợp; các cơ sở tâm linh, tôn giáo có giải pháp giảm bụi, khí thải từ hoạt động đốt vàng mã.
Thúc đẩy chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng điện, năng lượng xanh. Ảnh minh họa.
Tỉnh hướng tới mục tiêu 100% phương tiện tham gia giao thông đường bộ (bao gồm xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy) được quản lý, kiểm soát về khí thải theo lộ trình áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành về khí thải. Đến năm 2030, tỷ lệ phương tiện sử dụng điện, năng lượng xanh trong giao thông đô thị đạt tối thiểu 50%, trong đó 100% xe buýt, xe taxi thay thế, đầu tư mới sử dụng điện, năng lượng xanh.
Hoàn thiện hệ thống cây xanh đô thị theo hướng đa tầng, tạo cảnh quan đô thị và giảm phát tán bụi; tỷ lệ cây xanh, mặt nước, công viên khu vực đô thị đảm bảo quy định và quy hoạch được phê duyệt. Phấn đấu đến năm 2030, tỉnh có từ 01 công trình xây dựng xanh trở lên. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị được hoàn thiện đồng bộ, đáp ứng định hướng tăng dần tỷ lệ giao thông xanh, giao thông công cộng; hệ thống phương tiện giao thông công cộng được đầu tư, nâng cấp, chuyển đổi sang sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường.
Đối với công tác kiểm soát khí thải từ nguồn giao thông: Ưu tiên áp dụng các giải pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm bụi, khí thải từ nguồn giao thông cơ giới đường bộ tại các khu vực đô thị trung tâm gồm phường Hòa Thành, phường Tân Thành, phường Lý Văn Lâm, phường Bạc Liêu, phường Vĩnh Trạch.
Đối với công tác kiểm soát phát thải bụi và khí thải nguồn công nghiệp: Tăng cường các giải pháp kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực tập trung nhiều nguồn điểm hoặc phân bố nguồn điểm có công suất lớn gồm khu công nghiệp Khánh An, cụm dự án Khí - Điện - Đạm (xã Khánh An), các cơ sở chế biến thủy sản, các lò đốt chất thải y tế, chất thải sinh hoạt thuộc phường Bạc Liêu, phường Hiệp Thành, xã Ninh Quới, xã Phước Long, xã Gành Hào.
Đối với kiểm soát phát thải bụi và khí thải từ hoạt động nông nghiệp: Tăng cường các giải pháp quản lý chất thải chăn nuôi tại các khu vực tập trung chăn nuôi lớn thuộc xã Khánh Bình, xã Đá Bạc, xã Trần Văn Thời, xã U Minh và Thới Bình, xã Trí Phải, xã Tân Lộc, xã Biển Bạch, xã Phong Hiệp, xã Ninh Thạnh Lợi, xã Hưng Hội, xã Vĩnh Mỹ.
Tỉnh chú trọng nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và đầu tư nâng cấp công nghệ xử lý khí thải; áp dụng kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT), kinh nghiệm quản lý môi trường tốt nhất (BEP) và sản xuất sạch hơn cho nguồn tĩnh và nguồn động. Nghiên cứu đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng nhiên liệu trong hoạt động giao thông vận tải nhằm giảm phát thải.
Xây dựng/triển khai phần mềm hoặc ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp dữ liệu quan trắc và dữ liệu nguồn thải để phân tích nguyên nhân, dự báo ô nhiễm và cảnh báo phục vụ quản lý. Thúc đẩy chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu môi trường; đảm bảo quản lý tập trung, thống nhất, chia sẻ, cung cấp thông tin dữ liệu môi trường. Tiếp tục vận hành hiệu quả đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị về ô nhiễm môi trường
Ứng dụng AI/IoT/Big Data kết hợp dữ liệu cảm biến đo nhanh (LCS) và mô hình hóa số trị; nghiên cứu, thí điểm hệ thống “Bản sao số” (Digital Twin) trong quản lý chất lượng không khí. Phát triển bản đồ số hóa các điểm phát thải lớn, vùng ô nhiễm và khu vực nhạy cảm.
Triển khai thí điểm mô hình khu dân cư xanh - không phát thải, “trường học xanh”, “chợ không khí sạch” gắn với truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu tận thu, tái chế phụ phẩm nông nghiệp, chất thải xây dựng và phương tiện thải bỏ; phát triển công nghệ/vật liệu để xây dựng công trình xanh theo hướng sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp./.
Hồng Hạnh
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/kiem-soat-chat-che-cac-nguon-thai-nguy-co-gay-o-nhiem-khong-khi.html