Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong công nghiệp hóa và đô thị hóa. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang tạo áp lực lớn lên môi trường, đặc biệt là mất đất nông nghiệp và ô nhiễm đất tại các khu vực công nghiệp, làng nghề và bãi rác.
Ô nhiễm đất do kim loại nặng là vấn đề cần quan tâm, tập trung tại các làng nghề tái chế và bãi rác, cần được xử lý triệt để. Các nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi trường đất ở tỉnh chủ yếu là các chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải bệnh viện, chất thải làng nghề và chất thải công nghiệp.
Giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh thực hiện quan trắc môi trường đất định kỳ tại 63 vị trí với nhiều thông số. Đối với các thông số hoá chất bảo vệ thực vật được thực hiện tại 50 vị trí quan trắc. Qua kết quả quan trắc tại 50 vị trí chưa phát hiện sự ô nhiễm bởi các thông số hoá chất bảo vệ thực vật, chất lượng môi trường đất trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì ổn định, chưa phát hiện khu vực đất bị ô nhiễm bởi các thông số này.
Kiểm soát hoạt động xử lý chất thải tại các làng nghề giữ vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nông thôn.
Đáng chú ý là tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất, đặc biệt là tại khu vực làng nghề (tập trung chủ yếu là tại các làng nghề sản xuất, tái chế giấy Phong Khê thuộc phường Võ Cường) và khu vực bãi rác Phù Lãng, Phù Khê, cụm công nghiệp. Thực trạng trên xuất phát từ tình trạng nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh đổ nước thải sản xuất, chất thải rắn sản xuất chưa qua xử lý ra môi trường.
Đặc trưng của các nguồn thải này là có hàm lượng kim loại nặng tương đối cao dẫn đến kim loại nặng bị phơi nhiễm vào các nguồn nước, đất, của khu vực bị đổ thải, dẫn đến tình trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất tại các khu vực này. Nước thải từ các bãi chôn lấp chất thải rắn, khu, cụm công nghiệp có nguy cơ cao tác động đến môi trường đất do rò rỉ, thấm của chất hữu cơ, các chất độc hại qua thành, nền bãi rác, gây ô nhiễm đất.
Trong bối cảnh phát triển mạnh các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề truyền thống, hệ thống hạ tầng giao thông và dịch vụ đô thị, môi trường đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đang chịu áp lực ngày càng lớn từ nhiều nguồn tác động khác nhau như: nước thải sản xuất và sinh hoạt, chất thải rắn, khí thải lắng đọng, tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học, bùn lắng từ hệ thống thủy lợi và các hoạt động sản xuất có nguy cơ phát thải kim loại nặng.
Các giải pháp quản lý, kiểm soát ô nhiễm đang được triển khai, như dừng hoạt động các cơ sở gây ô nhiễm, tăng cường kiểm tra, phát triển nhà máy xử lý, tái chế chất thải hiện đại; đóng cửa, cải tạo, phục hồi môi trường đất các bãi chôn lấp chất thải.
Thời gian tới, Bắc Ninh đang tập trung giải quyết có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề môi trường bức xúc, cấp bách; kiểm soát có hiệu quả các nguồn thải gây ô nhiễm; từng bước cải thiện chất lượng môi trường nước, không khí, đất và cảnh quan sinh thái trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và giảm phát thải khí nhà kính.
Qua đó, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành tỉnh xanh, thông minh, phát thải thấp; xây dựng hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường đồng bộ, hiện đại; kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường; nâng cao chất lượng môi trường sống của Nhân dân; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.
Cùng với việc triển khai đồng bộ các giải pháp về xử lý rác thải, bảo vệ không khí, nguồn nước thì một trong những nhiệm vụ quan trọng được tỉnh đẩy mạnh triển khai là kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm đất, từng bước cải tạo, phục hồi các khu vực bị ô nhiễm.
Từ năm 2028-2029 địa phương này xây dựng bản đồ ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp. Thu thập, tổng hợp, chuẩn hóa dữ liệu nền về đất nông nghiệp, hiện trạng sử dụng đất, nguồn thải và các yếu tố tác động đến môi trường đất. Đánh giá ô nhiễm môi trường đất về kim loại nặng và một số chỉ tiêu đặc thù và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS, lập bản đồ số hóa các khu vực đất có nguy cơ ô nhiễm. Đề xuất giải pháp phục vụ công tác quản lý nhà nước, hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch, thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường, định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn vùng sản xuất nông sản an toàn, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên đất và phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh. Đề xuất giải pháp cho công tác quản lý chất thải từ các trang trại chăn tập trun, kiểm soát nguồn thải từ các trang trại chăn nuôi tập trung trên địa bàn.
Địa phương này chú trọng kiểm soát hoạt động sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón trong sản xuất nông nghiệp (Ảnh minh họa).
Cải tạo, phục hồi môi trường và quản lý sử dụng đất sau đóng cửa tại các bãi chôn lấp rác thải trên địa bàn. Đánh giá mức độ ô nhiễm tồn lưu tại các bãi chôn lấp rác cũ. Đề xuất giải pháp xử lý, phục hồi môi trường đất tại các bãi chôn lấp sau đóng cửa. Xây dựng mô hình xử lý ô nhiễm, cải tạo, phục hồi sức sản xuất của đất tại các khu vực bãi chôn lấp sau đóng cửa.
Tỉnh chú trọng hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về các khu vực bị ô nhiểm, suy thoái nhằm kiểm soát ô nhiễm, suy thoái đất và phục hồi các khu vực bị suy thoái, ô nhiễm: Tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất bảo vệ thực vật; xây dựng chuỗi thu gom bao bì bảo vệ thực vật.
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ môi trường, tỉnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý môi trường: Ứng dụng IoT, AI, Big Data trong quan trắc, cảnh báo sớm, dự báo ô nhiễm; Xây dựng bản đồ số môi trường (Environmental Map) tích hợp dữ liệu nước, không khí, đất, chất thải;
Số hóa toàn bộ quy trình cấp phép môi trường, ĐTM, báo cáo định kỳ, từng bước chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu số. Dữ liệu quan trắc môi trường tự động được thu thập, lưu trữ tập trung, hình thành kho dữ liệu quan trắc môi trường phục vụ giám sát thường xuyên, đánh giá chất lượng môi trường và hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành.
Ưu tiên nguồn vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ để nghiên cứu, làm chủ các module xử lý nước thải, khí thải dạng container (tiết kiệm diện tích, chi phí thấp) phù hợp với thực trạng các làng nghề tái chế tại địa phương./.
Lê An