Nuôi biển công nghệ cao, hướng tới tăng trưởng xanh

16/09/2026 15:24

MTNN Xác định kinh tế biển có vai trò quan trọng trong phát triển của tỉnh, Lâm Đồng đang tập trung triển khai các đề án, chương trình liên quan nuôi biển theo hướng hiện đại, bền vững.

Lâm Đồng có chiều dài bờ biển trên 192km, diện tích vùng lãnh hải 52.000km2, hội tụ các yếu tố tự nhiên tạo nên một vùng biển giàu tài nguyên sinh vật, trong đó nguồn lợi thủy sản đa dạng về chủng loại, trữ lượng lớn, có nhiều loài hải đặc sản nổi tiếng có giá trị kinh tế cao.

Trong những năm qua, áp lực khai thác đã làm nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm nghiêm trọng; nhiều giống, loài hải sản đã mất dần khả năng tự tái tạo, phục hồi mật độ quần thể. Nhiều loài khai thác được rất ít hoặc không còn trong tự nhiên dẫn đến sản lượng khai thác không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

Nuôi trồng thủy sản trên biển đã tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho ngư dân địa phương các vùng ven biển, trong đó có nhiều ngư dân làm nghề khai thác thủy sản ven bờ chuyển đổi nghề sang nuôi biển. Toàn tỉnh có 7 khu vực đang triển khai nuôi biển ven bờ, ven đảo được che chắn gió bởi những mũi nhỏ nhô ra biển gồm: Vĩnh Hảo, Liên Hương, Phan Rí Cửa, Hòa Thắng, Tân Thành, Mũi Né và đặc khu Phú Quý. Trong đó, có 3 khu vực nuôi phải di chuyển bè theo mùa nam và mùa bắc để tránh sóng gió; các khu vực còn lại bè nuôi được neo giữ cố định quanh năm ở những bãi ngang, cách bờ từ vài trăm đến hơn 1.000m, có độ sâu hơn 5m. 

Gắn bó với lồng gỗ nhiều năm, ông Nguyễn Văn Sinh (xã Phan Rí Cửa) cho biết, sau khi chuyển sang lồng HDPE, gia đình đã thu hoạch một số mẻ cá bớp, cá chim cho lợi nhuận khá. Trước đây, lồng gỗ thường xuyên phải sửa chữa, từ thay đinh, ốc đến thanh gỗ, trong khi lồng HDPE giảm đáng kể các khoản chi phí này.   

Các lồng nuôi sử dụng vật liệu HDPE từng bước được đưa vào sử dụng góp phần nâng cao hiệu quả nuôi trồng. 

Trên vùng khoanh nuôi biển Gành Rái thuộc thôn 1 Bình Thạnh, xã Liên Hương, anh Ngô Hiếu Hoài nuôi cá chim vây vàng trong 21 lồng vuông và 5 lồng tròn HDPE. Gắn bó với nghề nuôi biển từ năm 2019, ban đầu anh nuôi cá mú, cá bớp. Qua thời gian, anh càng nhận ra điều kiện vùng biển nơi đây khó mở rộng quy mô do sóng lớn, dòng chảy mạnh.  

Anh Hoài quyết định chuyển hướng sang cá chim vây vàng - loài cá có sức bơi tốt, khỏe, thích nghi với điều kiện vùng biển địa phương và thử nghiệm nuôi 1 lồng tròn HDPE cho thấy hiệu quả. Đến đầu năm 2026, anh được Trung tâm Khuyến nông tỉnh chọn hỗ trợ thực hiện mô hình nuôi cá chim vây vàng bằng lồng tròn HDPE.

Mô hình gồm 4 lồng tròn HDPE 3 vành, chu vi 40 m, 40.000 con cá giống và 33.600 kg thức ăn công nghiệp, tổng kinh phí hơn 2,7 tỷ đồng; trong đó gia đình anh đối ứng hơn 1,3 tỷ đồng. Theo anh Hoài, ưu điểm dễ nhận thấy nhất của lồng tròn HDPE là không gian nuôi rộng và khả năng chịu sóng gió tốt. Cá chim vốn có tập tính bơi nhiều nên khi được nuôi trong không gian rộng, đàn cá vận động tốt, phát triển tương đối đồng đều, khỏe và ít bệnh hơn. 

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, nuôi biển đang tạo sinh kế, nâng thu nhập và góp phần chuyển một bộ phận ngư dân từ khai thác sang nuôi trồng. Do vùng biển không có các vịnh lớn kín gió, dọc bờ biển có nhiều sóng, gió, cho nên lồng gỗ dễ bị tác động khi thời tiết xấu. Tuy chưa có dự án nuôi biển công nghiệp xa bờ, nhưng tiềm năng phát triển và ứng dụng công nghệ nuôi lồng HDPE là rất khả thi.

Từ năm 2022 đến 2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng đã triển khai nhiều mô hình nuôi biển bằng lồng HDPE, hướng đến xây dựng vùng nuôi thích ứng biến đổi khí hậu. Năm 2022, mô hình nuôi cá bớp tại đặc khu Phú Quý với tám lồng HDPE đạt năng suất 8,4 kg/m³, lợi nhuận gần 200 triệu đồng và sau đó được nhân rộng lên 69 lồng.

Tại xã Phan Rí Cửa, mô hình nuôi cá bè trắng bằng lồng tròn HDPE quy mô 530 m³/lồng đạt năng suất 10,4 kg/m³, lợi nhuận khoảng 33 triệu đồng/lồng và được nhân rộng lên ba lồng. Lồng được thiết kế với vành chịu lực, thuận tiện di dời khi cần thiết, phù hợp điều kiện vùng bãi ngang, biển hở. Cùng với đó, mô hình nuôi cá mú bằng lồng vuông HDPE có kích thước tương đồng lồng gỗ, phù hợp điều kiện đầu tư của người dân, đã được nhân rộng lên 14 lồng.  

Xác định kinh tế biển có vai trò quan trọng trong phát triển của tỉnh, Lâm Đồng đang tập trung triển khai các đề án, chương trình liên quan nuôi biển theo hướng hiện đại và bền vững. Cuối năm 2025, UBND tỉnh phê duyệt đề án “Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Mục tiêu đến năm 2030, tỉnh duy trì, mở rộng 100-150ha vùng nuôi ven bờ; xây dựng một đến hai khu/cụm công nghiệp nuôi biển; sản lượng nuôi biển đạt 50.000 tấn, chiếm 22% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh, ước đạt 5.000-5.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 50 triệu USD

Mở rộng, thúc đẩy chuyển đổi nhanh công nghệ nuôi lồng bè giản đơn/bán công nghiệp khu vực vũng vịnh kín, nửa kín ven bờ sang sử dụng vật liệu độ bền cao, có khả năng chống chịu rủi ro thiên tai, theo hình thức nuôi công nghiệp. Trong đó: Giai đoạn đến năm 2030, mở rộng diện tích nuôi khu vực vũng, vịnh kín nửa kín đạt khoảng 150 ha gắn với quy hoạch chi tiết, bố trí lại, giảm mật độ công trình nuôi (tỷ lệ tối đa 10% diện tích mặt nước nuôi), quy định khoảng cách giữa các bè nuôi để đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường, dịch bệnh; đẩy mạnh cải tiến công nghệ nuôi (gồm lồng bè, thức ăn công nghiệp, tự động hóa một số khâu nuôi) để tăng năng suất, sản lượng, giá trị nuôi;

Lâm Đồng khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, thúc đẩy phát triển nuôi biển công nghệ cao. 

Giai đoạn sau năm 2030 đến năm 2045, duy trì diện tích, mật độ bố trí công trình nuôi, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao (giống, thức ăn công nghiệp, tự động hóa…) để tăng năng suất, sản lượng trên đơn vị diện tích, gia tăng giá trị nuôi. Xác lập và xây dựng khu/cụm công nghiệp nuôi biển vùng biển mở gần bờ có điều kiện phù hợp, có cơ chế chính sách hỗ trợ hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp nuôi để tạo đột phá về năng suất, sản lượng, giá trị.  

Giai đoạn đến năm 2030, hình thành được ít nhất 01 khu/cụm nuôi biển công nghiệp với diện tích mặt nước khoảng 200 ha; Giai đoạn sau năm 2030 đến năm 2045, tiếp tục mở rộng diện tích nuôi biển công nghiệp vùng biển mở, phát triển thêm 04 khu/cụm nuôi biển công nghiệp với diện tích mặt nước khoảng 800 ha. Đẩy mạnh khoanh nuôi hải đặc sản, giá trị kinh tế cao, có kiểm soát và tác động công nghệ (bổ sung giống, tạo môi trường sinh trưởng cho loài nuôi, tạo nguồn thức ăn,…) tại các khu vực biển chức năng gắn với đẩy mạnh chuyển đổi nghề cho ngư dân khai thác ven bờ sang nuôi biển. 

Trong đó: Giai đoạn đến năm 2030, quy hoạch khu vực khoanh nuôi hải đặc sản khoảng 5.000 ha trong khu vực biển đồng quản lý ven biển Tân Thành và phân khu dịch vụ - hành chính Khu bảo tồn biển Hòn Cau, gắn với chuyển đổi nghề cho khoảng 3.000 ngư dân làm nghề khai thác ven bờ; Giai đoạn từ sau năm 2030 đến năm 2045, mở rộng khu vực khoanh nuôi hải đặc sản thêm khoảng 5.000 ha tại các khu vực biển đồng quản lý, phân khu dịch vụ - hành chính của khu bảo tồn biển gắn với chuyển đổi nghề cho khoảng 5.000 ngư dân làm nghề khai thác ven bờ. 

Xây dựng tiêu chí áp dụng cho các hình thức nuôi biển theo nội dung Đề án làm cơ sở để các chủ thể lập dự án, phương án đầu tư nuôi biển, đồng thời là căn cứ để quản lý đầu tư nuôi biển, kiểm soát các tác nhân gây mất an toàn, giảm thiểu tối đa rủi ro trong hoạt động nuôi biển.

Cụ thể: Đối với hoạt động nuôi lồng bè tại vùng biển kín, bán kín thuộc khu vực ven bờ, ven đảo: Hình thức nuôi hộ gia đình là chủ yếu; sắp xếp lại trên cơ sở phương án chi tiết bố trí vùng nuôi, giảm mật độ bố trí lồng bè, đảm bảo sức tải môi trường; khuyến khích áp dụng công nghệ nuôi tiên tiến (sử dụng lồng bè HDPE, thức ăn công nghiệp, trang thiết bị theo dõi, kiểm soát quá trình nuôi,…); hình thành tổ chức quản lý cộng đồng vùng nuôi để giám sát bảo vệ môi trường.

Đối với các vùng nuôi lồng bè hiện trạng không đáp ứng tiêu chí theo Đề án thì tạo điều kiện để các hộ nuôi di dời hoặc đầu tư mới tại các khu vực nuôi phù hợp theo Đề án được duyệt. Đối với khu vực biển mở: Phát triển nuôi biển công nghiệp, hiện đại, đầu tư đồng bộ. Các hình thức tổ chức sản xuất gồm khu/cụm nuôi biển công nghiệp hoặc trang trại nuôi biển công nghiệp theo dự án đầu tư nuôi biển được cấp có thẩm quyền chấp thuận, quy mô dự án tối thiểu từ 100 ha trở lên. 

Đối với khu vực biển chức năng phát triển nuôi biển, khoanh nuôi tự nhiên có tác động công nghệ (vùng biển đồng quản lý, phân khu dịch vụ - hành chính khu bảo tồn biển): Các hình thức tổ chức nuôi gồm: Cá nhân, hộ gia đình (ưu tiên các đối tượng được giao khu vực biển nuôi trồng thủy sản không thu tiền theo quy định của Luật Thủy sản), Hội cộng đồng ngư dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp; đảm bảo tuân thủ phương án bố trí khoanh nuôi biển theo quy định áp dụng đối với khu vực biển chức năng.

Hiện đại hóa công nghệ nuôi biển, phổ biến việc sử dụng vật liệu HDPE có độ bền cao, chống chịu sóng gió lớn đối với công trình nuôi cá, hải sản lồng bè; thí điểm thực hiện lồng nuôi có khả năng tự chìm khu vực biển mở chịu tác động sóng, gió lớn. Đầu tư công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp, công nghệ thu hoạch, bảo quản, công nghệ chế biến tiên tiến.

Đầu tư phương tiện vận chuyển giống, cung cấp thức ăn bán tự động/ tự động; đầu tư tàu chuyên dụng cơ giới hóa cao phục vụ khâu thu hoạch, bảo quản, vận chuyển sản phẩm nuôi biển đảm bảo chất lượng. Khuyến khích đầu tư năng lượng tái tạo (pin năng lượng mặt trời, điện gió,…) để sử dụng các trang thiết bị trên bè nuôi để giảm rác thải, đảm bảo vệ sinh môi trường, giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nuôi.

Đầu tư nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất giống cá, hải đặc sản biển có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng (cá biển, nhuyễn thể, tôm hùm,...), chất lượng cao, đặc biệt ưu tiên nghiên cứu, tiến tới chủ động sản xuất thương mại giống các loài hải sản đặc thù của tỉnh (sò lông, điệp quạt,…) để phục vụ các hình thức nuôi biển của tỉnh, gồm giống phục vụ nuôi biển công nghiệp, nguồn giống bổ sung khoanh nuôi hải đặc sản./. 

 

 Minh Hương 

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/nuoi-bien-cong-nghe-cao-huong-toi-tang-truong-xanh.html

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đẩy mạnh liên kết, nâng cao sức cạnh tranh cho cây trồng chủ lực

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, tỉnh Điện Biên tập trung mở rộng diện tích mắc ca và cà phê gắn với nhu cầu thị trường. Tỉnh khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã tăng cường liên kết với người dân, xây dựng vùng nguyên liệu và mở rộng các kênh tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm.

Bạn đọc quan tâm

Mới nhất
Xem nhiều nhất
Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com