Trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến thiên tai có xu hướng diễn biến bất thường, cực đoan và khó dự đoán, nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm là nhiệm vụ cấp thiết. Hệ thống quan trắc hiện đại giúp thu thập liên tục dữ liệu về mưa, lũ, sạt lở đất, dông lốc, bão và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm, tạo cơ sở cho việc phân tích, dự báo chính xác hơn.
Cùng với đầu tư trang thiết bị, việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, viễn thám và các mô hình dự báo hiện đại có thể nâng cao khả năng nhận diện nguy cơ, kéo dài thời gian cảnh báo. Quan trọng hơn, thông tin cảnh báo được truyền tải nhanh chóng, dễ hiểu và đến đúng đối tượng, nhất là người dân tại các khu vực có nguy cơ cao.
Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng, công tác phòng ngừa, ứng phó thiên tai sẽ chủ động, hiệu quả hơn, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.
Theo Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến tháng 9/2026, toàn ngành có hơn 2.800 trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, ra-đa... Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cung cấp khoảng 9.000 bản tin mỗi năm, trong khi các đài khu vực và địa phương cung cấp gần 50.000 bản tin.
Hệ thống này được hỗ trợ bởi Trung tâm dữ liệu đạt chuẩn Tier 3, hệ thống siêu máy tính, dữ liệu lớn và các mô hình dự báo số trị. Mạng lưới quan trắc cũng đang được đẩy mạnh tự động hóa. Nội dung báo cáo tại Hội nghị điển hình tiên tiến của Cục Khí tượng thủy văn năm 2025 cho biết số trạm khí tượng tự động đã tăng lên 130 trạm, trạm thủy văn tự động 317 trạm, trong đó có 101 trạm nằm trong các trạm truyền thống và 216 trạm tự động độc lập; mạng lưới hải văn tự động có 26 trạm.
Hằng năm, ngành kiểm định hơn 2.000 phương tiện đo các loại để phục vụ mạng lưới quan trắc. Cùng với mở rộng mạng lưới, cách thức khai thác dữ liệu cũng thay đổi mạnh. Hệ thống dự báo hiện sử dụng đồng thời nhiều nguồn thông tin như ra-đa thời tiết, ảnh vệ tinh khí tượng, dữ liệu định vị sét, vệ tinh quỹ đạo cực và thám không vô tuyến.
Năm 2025, Cục Khí tượng thủy văn đã nghiệm thu hệ thống gồm 5 phần mềm tích hợp nhằm xử lý và khai thác các nguồn dữ liệu này, phục vụ tác nghiệp dự báo. Việc kết nối các nguồn dữ liệu giúp dự báo viên có thêm cơ sở theo dõi diễn biến của mây đối lưu, mưa, dông sét và các hệ thống thời tiết nguy hiểm trong thời gian thực. Việc ứng dụng công nghệ đã góp phần kéo dài thời gian dự báo, cảnh báo.
Theo Cục Khí tượng Thủy văn, các ứng dụng công nghệ mới đã góp phần nâng thời gian dự báo bão, áp thấp nhiệt đới từ 24 giờ lên 36 giờ; với nhiều cơn bão có quỹ đạo ổn định, thời gian dự báo trước đạt 60-72 giờ.
Đối với các đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại, thời gian cảnh báo đạt 48-72 giờ. Ngành cũng đã phát triển công nghệ phục vụ dự báo điểm chi tiết tại khoảng 600 điểm trên toàn quốc. Tại cuộc làm việc ngày 23/9/2026, Cục Khí tượng thủy văn xác định tiếp tục chuyển từ quan trắc thủ công sang tự động, ưu tiên khu vực miền núi, vùng biển; hiện đại hóa các trung tâm điều hành, tăng cường chia sẻ dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, mô hình số trị vào dự báo, cảnh báo.
Đáng chú ý, Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, nhấn mạnh yêu cầu tăng cường phòng ngừa, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan.
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo góp phần giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản trong bối cảnh thiên tai, bão lũ ngày càng diễn biến phức tạp. (Ảnh minh hoạ).
Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 213-KL/TW xác định chuyển từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, tăng cường phòng ngừa chủ động, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 213-KL/TW yêu cầu tập trung dự báo sớm, chi tiết các loại hình thiên tai cực đoan như mưa lớn cục bộ, lũ đặc biệt lớn, sạt lở đất, lũ quét, dông, lốc;
Đồng thời hoàn thiện phương án ứng phó với từng loại hình thiên tai, xác định các khu vực nguy cơ cao để chủ động sơ tán, di dời người dân khi cần thiết. Chỉ thị cũng yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và gắn chặt thông tin dự báo với chỉ đạo ứng phó. Trước đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2026 đặt nhiệm vụ hiện đại hóa mạng lưới khí tượng thủy văn, nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo thiên tai, nhất là đối với lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đây là sự cụ thể hóa yêu cầu đưa khoa học, công nghệ và dữ liệu vào công tác phòng ngừa rủi ro, đồng thời gắn năng lực khí tượng thủy văn với yêu cầu phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm không chỉ là giải pháp ứng phó trước mắt mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng xã hội có khả năng chống chịu tốt hơn trước thiên tai. Để đạt hiệu quả, ngành khí tượng thuỷ văn tiếp tục hoàn thiện mạng lưới quan trắc, hiện đại hóa thiết bị, tăng cường chia sẻ dữ liệu và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ làm công tác dự báo.
Bên cạnh đó, các địa phương đẩy mạnh xây dựng phương án cảnh báo phù hợp với từng loại hình thiên tai, từng khu vực và từng nhóm đối tượng, bảo đảm thông tin đến người dân nhanh nhất có thể. Việc kết hợp giữa công nghệ hiện đại với kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao nhận thức cộng đồng và tổ chức diễn tập thường xuyên cũng đóng vai trò quan trọng. Khi cảnh báo được đưa ra sớm, chính xác và được chuyển hóa thành hành động cụ thể, thời gian chuẩn bị ứng phó sẽ được kéo dài, qua đó hạn chế tối đa thiệt hại. Đây cũng là hướng đi cần thiết để chủ động thích ứng với thiên tai ngày càng phức tạp.
Hương Lan
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/nang-cao-nang-luc-quan-trac-trong-du-bao-canh-bao-som-thien-tai.html