Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, hiện nay việc phát triển nông nghiệp phải gắn chặt bảo đảm an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng; giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái nông nghiệp... Trong bối cảnh đó, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học được xác định là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần giảm dần sự phụ thuộc vào thuốc hóa học, hỗ trợ triển khai quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp hữu cơ.
Nhiều quốc gia trên thế giới có chiến lược và các giải pháp thiết thực để phát triển sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học. Trong đó, Trung Quốc đã lập quỹ quốc gia 800 triệu nhân dân tệ hỗ trợ nông dân sử dụng thuốc BVTV sinh học để phòng chống sinh vật gây hại. Ấn Độ có khoảng 400 cơ sở sản xuất thuốc BVTV sinh học, trong đó 130 cơ sở tư nhân và 280 cơ sở của Nhà nước...
Những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách phát triển sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học như: Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT về quản lý thuốc BVTV; Quyết định số 150/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ thuốc bảo vệ thực vật sinh học lên 30% trong danh mục được phép sử dụng, tăng lượng sử dụng lên 30%. Ngành nông nghiệp phấn đấu tập huấn ít nhất 80% số địa phương và xây dựng mô hình hiệu quả trên chín nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia gồm lúa, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, chè, cây ăn quả, rau, sắn.
Tăng cường quản lý, phát triển thuốc BVTV sinh học là động lực để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xanh, bền vững.
Thống kê cho thấy, lượng thuốc BVTV sinh học được sử dụng đã tăng từ 16,67% năm 2020 lên 19,46% năm 2024. Các khu vực sử dụng thuốc BVTV sinh học nhiều là Đông Nam Bộ (1,54 kg/ha), ĐBSCL (0,80 kg/ha). Dự báo năm 2023-2028, thị trường thuốc BVTV sinh học sẽ phát triển với tốc độ tăng trưởng kép đạt 15,9%.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, hiện cả nước có 94 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đủ điều kiện theo quy định, trong đó, có 85 cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Các dạng thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật vi sinh vật, thảo mộc và các thuốc nhóm hóa sinh.
Tính đến giữa năm 2025, Việt Nam đã sản xuất được gần 30 dạng thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm khác nhau. Trong đó, có rất nhiều dạng tiên tiến và an toàn cho con người như: Dạng hạt phân tán trong nước, dầu phân tán, đậm đặc tan trong nước, dạng hạt (WG, OD, SL, GR,...). Cùng với đó, các công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học phổ biến trên thế giới cũng đã được đăng ký, sản xuất và ứng dụng tại Việt Nam như: Thuốc bảo vệ thực vật sinh học nano, chiết xuất từ thảo mộc, chứa các vi sinh vật và một số loại thuốc có nguồn gốc virus hay từ tuyến trùng...
Công tác nghiên cứu, ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, có rất ít dây chuyền công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở quy mô công nghiệp. Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu thử nghiệm, sản xuất, chuyển giao các thuốc bảo vệ thực vật sinh học hiện nay còn khó khăn, thiếu đồng bộ do chưa có sự phối hợp, liên kết giữa các thành phần sản xuất, dẫn đến vướng mắc khi chuyển giao và ứng dụng.
Bên cạnh đó, người dân chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng thuốc BVTV sinh học; thói quen sử dụng thuốc BVTV hóa học do hiệu quả cao, tức thời, giá thành rẻ trong khi các thuốc BVTV sinh học có chi phí sử dụng cao, thời gian bảo quản ngắn, phổ tác động hẹp, hiệu quả chậm hơn so với thuốc hóa học cũng khiến nhiều nông dân còn e dè.
Những tồn tại này đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận quản lý phù hợp hơn, vừa tạo điều kiện phát triển thuốc BVTV sinh học, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, an toàn và hiệu quả. Theo nhiều chuyên gia, các cơ quan chức năng và địa phương cần có chính sách hỗ trợ đặc thù cho nhà nông tại các vùng nông nghiệp trọng điểm, nhất là khuyến khích sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học ở quy mô nông hộ.
Trong đó, cần xây dựng mức hỗ trợ tài chính cụ thể khi mua và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, xem xét hỗ trợ từ 20-30% chi phí mua thuốc trong giai đoạn đầu chuyển đổi. Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng mô hình trình diễn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học trên các cây trồng chủ lực; tăng cường đào tạo, tập huấn về cách sử dụng, bảo quản sản phẩm này. Ngành chức năng cần hỗ trợ đầu ra, kết nối các mô hình sử dụng thuốc sinh học với các chuỗi, cửa hàng tiêu thụ nông sản an toàn, giúp nông dân bán sản phẩm với giá cao hơn, tạo động lực cho sản xuất./.
Minh Hòa