Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 10 tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 4%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 63 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là kết quả tạo nền tảng để ngành tiếp tục phấn đấu hoàn thành và vượt mục tiêu tăng trưởng, xuất khẩu năm 2026. Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững ngày càng cao, khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Theo Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng một vài công nghệ nhỏ lẻ vào canh tác, mà là một quá trình tái kiến tạo toàn diện hệ sinh thái sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu thụ trên môi trường số. Hiện nay, với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain) đã mở ra một phương thức sản xuất hoàn toàn mới để hướng đến nền nông nghiệp chính xác và nông nghiệp thông minh.
Thực tiễn ứng dụng từ chọn tạo giống, công nghệ sinh học đến cơ giới hóa, bảo quản và chế biến đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm tổn thất và cải thiện hiệu quả kinh tế. Đáng chú ý, việc ứng dụng giống lúa mới và quy trình canh tác tiên tiến giúp nâng năng suất khoảng 9,9%, tăng sản lượng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tương ứng giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy, tiến bộ kỹ thuật được triển khai phù hợp với điều kiện sản xuất, nghiên cứu khoa học có thể tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trên quy mô lớn.
Cùng với ứng dụng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung được xem là nền tảng để nâng cao năng lực quản trị ngành nông nghiệp. Chiến lược dữ liệu nông nghiệp - nông dân - nông thôn hướng tới kết nối, liên thông dữ liệu giữa nhà khoa học, chuyên gia, nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức có giải pháp công nghệ được ứng dụng trong thực tiễn.
Đến năm 2030, chương trình đặt mục tiêu hoàn thiện 100% cơ sở dữ liệu cốt lõi về mã số vùng trồng, mã số vùng nuôi, đất đai nông nghiệp, quy hoạch thủy lợi, hợp tác xã và nông dân xuất sắc; kết nối dữ liệu từ 34 tỉnh, thành phố về Trung tâm Dữ liệu Nông nghiệp Quốc gia. Đồng thời, phấn đấu 80% hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng nền tảng phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để dự báo thị trường, thời tiết và quản trị rủi ro.
Chuyển đổi số cũng mở ra cơ hội thúc đẩy nông nghiệp xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm tác động đến môi trường.
Dữ liệu về độ ẩm, thời tiết và tình trạng cây trồng giúp người sản xuất điều chỉnh lượng nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật phù hợp, hạn chế lãng phí và giảm chi phí đầu vào. Việc minh bạch thông tin về quy trình sản xuất, nguồn gốc và chất lượng còn giúp nông sản nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường có yêu cầu cao. Sự kết nối đồng bộ giữa dữ liệu, hạ tầng, công nghệ và thị trường sẽ tạo điều kiện để người nông dân nâng cao thu nhập, nông sản gia tăng giá trị, đồng thời thúc đẩy xây dựng nông thôn hiện đại, bao trùm và phát triển bền vững.
Nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, với hơn 60% dân số sống ở nông thôn, liên quan trực tiếp đến an sinh - xã hội, đời sống người dân, an ninh lương thực quốc gia, sức khỏe, chất lượng sống và phát triển bền vững. Những năm qua, nông nghiệp nước ta cơ bản phát triển ổn định, giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng nông nghiệp bình quân đạt khoảng 3,57%/năm, đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, là khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế trong những lúc khó khăn.
Bên cạnh kết quả đạt được, nông nghiệp nước ta cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế và đứng trước các khó khăn, thách thức, điểm nghẽn cần phải giải quyết để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới. Trước thực tế này, Chính phủ yêu cầu phát triển đối với ngành nông nghiệp thời gian tới là rất cao, đòi hỏi hiệu quả về phương pháp và công cụ, tiến độ phải nhanh và kết quả phải có chất lượng; hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp phải là việc làm thường xuyên, liên tục, thực chất và hiệu quả.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng nông nghiệp; các sản phẩm nghiên cứu, ứng dụng phải hướng vào thực tiễn sản xuất, có khả năng thương mại hóa, sức cạnh tranh cao; mục đích là nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải, giá trị gia tăng cao hơn và thu nhập, đời sống của người dân tốt hơn.
Lấy yêu cầu tăng trưởng và thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm điểm xuất phát; doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất làm trung tâm ứng dụng; lấy hiệu quả (kinh tế - xã hội - môi trường), năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng làm thước đo. Mọi nhiệm vụ phải hướng tới kết quả cụ thể, gắn với thị trường, có địa chỉ ứng dụng, có khả năng nhân rộng; không đầu tư dàn trải. Mỗi địa phương phải xác định đúng bài toán theo tiềm năng, thế mạnh của mình.
Các bộ ngành, địa phương phải nhận diện đúng, đầy đủ và thực chất các điểm nghẽn để tập trung nguồn lực giải quyết về thể chế, cơ chế tài chính, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu giống, thức ăn chăn nuôi, vaccine, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…; Xác định đúng định hướng, nhiệm vụ và lĩnh vực ưu tiên, bài toán lớn trên cơ sở thế mạnh, tiềm năng của địa phương, của vùng; khẩn trương thực hiện chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc toàn trình.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện, đẩy mạnh cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ trong nông nghiệp; thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ, định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu; phấn đấu tối thiểu 30% số đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.
Phối hợp với các Bộ: Công an, Khoa học và Công nghệ, Tài chính, Công Thương và các cơ quan, địa phương liên quan hoàn thiện, tổ chức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; đẩy nhanh chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu; xác định bộ dữ liệu tối thiểu theo từng nhóm sản phẩm; hướng dẫn quy trình cập nhật và yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật kết nối, cơ chế xác thực thông tin; phối hợp với các địa phương rà soát, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu định danh chủ thể, hộ nông dân nuôi/trồng/đánh bắt, vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói tại địa phương lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất.
Bộ Công an tiếp tục phối hợp, hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh xây dựng, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu chuyên ngành, ưu tiên các cơ sở dữ liệu, kết nối dữ liệu định danh chủ thể và dữ liệu lưu thông hàng hóa theo quy định; kết nối Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; rà soát chỉnh sửa lỗi hệ thống kết nối trên Cổng thông tin điện tử quốc gia; phối hợp hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, hướng dẫn và thúc đẩy việc triển khai Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đến từng địa phương, bảo đảm kết nối, liên thông và vận hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc; phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan liên quan chuẩn bị Hội nghị toàn quốc về "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp".
Bộ Công Thương hướng dẫn tổ chức kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối và các kênh thương mại điện tử; thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ. Rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn về dịch vụ logistics, bảo quản và phân phối nông sản.
Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức truy xuất nguồn gốc; kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản; hướng dẫn các chủ thể kinh doanh tham gia chuỗi cập nhật, cung cấp dữ liệu theo quy định, bảo đảm liên kết thông tin lô hàng giữa các công đoạn. Hướng dẫn, phối hợp với các địa phương kiểm tra, xử lý hành vi gian lận về nguồn gốc, xuất xứ và thông tin hàng hóa trong lưu thông, phân phối và thương mại điện tử theo thẩm quyền; khai thác dữ liệu truy xuất nguồn gốc phục vụ phát hiện, cảnh báo và xử lý vi phạm.
UBND các tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, đánh giá thực chất hiện trạng nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường: số lượng đề tài nghiên cứu, kết quả đã đạt được, nội dung chưa đạt được. Xác định danh mục các bài toán lớn, cấp thiết; mỗi địa phương lựa chọn từ 3 đến 5 bài toán ưu tiên, thể hiện rõ mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, xây dựng thương hiệu bền vững và triển khai thực hiện./.
Lê Thành