Góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, Môi trường biển, hải đảo (sửa đổi), các chuyên gia cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần tiếp cận theo hướng quản trị biển hiện đại, gắn phát triển kinh tế biển xanh với bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch không gian biển.
Theo đó, Việt Nam đã đặt nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh từ Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và các kế hoạch hành động liên quan trong nhiều năm qua. Trong đó, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái tự nhiên ven biển chính là nền tảng để phát triển kinh tế biển bền vững.
(Ảnh minh họa)
Việt Nam đã có cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học biển. Trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam theo Nghị quyết 36 của Trung ương, mục tiêu đến năm 2030 là diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo mô hình khu bảo tồn biển truyền thống thì rất khó đạt mục tiêu này.
Trên thực tế cần nhìn rộng hơn, bao gồm cả các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn giống loài thủy sinh và các hình thức bảo tồn khác đang tồn tại trong thực tiễn quản lý. Quốc tế hiện đã xuất hiện khái niệm OECM - tức các khu vực được quản lý bằng những hình thức khác nhau nhưng vẫn tạo ra hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Đây có thể là hướng tiếp cận phù hợp để Việt Nam nghiên cứu bổ sung vào dự thảo luật và các quy hoạch biển trong thời gian tới.
Việc bảo tồn biển không nên chỉ chạy theo mục tiêu diện tích, mà quan trọng hơn là khả năng phục hồi hệ sinh thái và tạo hiệu ứng lan tỏa sinh học ra các vùng biển xung quanh. Khu bảo tồn biển nếu được quản lý tốt sẽ tạo hiệu ứng phát tán nguồn lợi ra bên ngoài, góp phần phục hồi hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ở các khu vực lân cận.
Liên quan đến phát triển nuôi biển, các chuyên gia lưu ý, cần phân biệt rõ giữa nuôi biển ven bờ quy mô nhỏ với nuôi biển công nghiệp ngoài khơi. Nuôi biển xa bờ là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, vốn đầu tư và năng lực quản lý rất cao, nên không thể chỉ dừng ở việc giao biển cho người dân rồi để tự phát triển. Đơn cử, Khánh Hòa đã triển khai thí điểm nuôi biển công nghiệp từ nhiều năm trước nhưng chi phí đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và cần hệ thống hỗ trợ đồng bộ.
Vì thế, cần xây dựng đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn công nghệ, quản lý môi trường, mật độ nuôi, thức ăn, quan trắc và kiểm soát tác động môi trường biển. Dự thảo luật cần tiếp tục hoàn thiện công cụ quy hoạch không gian biển để phân bổ hợp lý các hoạt động kinh tế trên biển, hạn chế xung đột giữa nuôi biển, du lịch, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải và bảo tồn sinh thái…/.
ĐOÀN VINH
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/khu-bao-ton-bien-neu-duoc-quan-ly-tot-se-tao-hieu-ung-phat-tan-nguon-loi.html