Toàn tỉnh Sơn La hiện có hơn 671.596 ha, tỷ lệ che phủ rừng 47,43%. Những cánh rừng tại Sơn La đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn sông Đà, bảo đảm sinh thủy cho các công trình thủy điện quốc gia, đồng thời là không gian sinh kế của gần 85% dân số nông thôn.
Rừng không chỉ góp phần điều hòa khí hậu, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm quốc phòng - an ninh khu vực Tây Bắc. Đặc biệt, với tiềm năng lớn về hấp thụ và lưu giữ các-bon, Sơn La có khả năng phát triển thị trường tín chỉ các-bon rừng trong tương lai.
Tại các Khu rừng đặc dụng của tỉnh có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đặc trưng điển hình rừng kín thường xanh vùng núi cao Tây Bắc, với nhiều loài động thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ Thế giới. Với giá trị tài nguyên quý giá trên, bảo vệ rừng được tỉnh Sơn La xác định là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ hệ sinh thái, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng được ngành lâm nghiệp tỉnh đẩy mạnh triển khai là tăng cường ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh từ năm 2000, ngành lâm nghiệp đã bắt đầu dùng GPS, bản đồ để đo đạc. Đến năm 2016, dưới sự hỗ trợ của ngành chức năng và các đơn vị, Sơn La đã triển khai hệ thống theo dõi diễn biến rừng FRMS Desktop và FRMS Mobile, mở đầu cho quản lý rừng theo dữ liệu số. Những năm sau đó, hệ sinh thái công nghệ dần hoàn thiện, như: GIS, viễn thám, flycam, phần mềm SMART, camera tích hợp AI và các mô hình dự báo cháy rừng.
Qua thực tế triển khai tại tỉnh Sơn La cho thấy, công nghệ mang lại hiệu quả rõ rệt trong giám sát và phát hiện biến động. Viễn thám cho phép so sánh ảnh đa thời gian để phát hiện mất rừng, suy thoái hay lấn chiếm ngay khi biến động mới xuất hiện. Công cụ Flycam giúp xác minh nhanh, thu bằng chứng hình ảnh sắc nét; camera AI đặt tại chòi canh có khả năng nhận diện khói, lửa, gửi cảnh báo tự động về trung tâm điều hành.
Công tác bảo vệ, phát triển rừng tại các địa phương ngày càng đươc nâng cao (Ảnh minh họa).
Các mô hình dự báo cháy rừng, kết hợp yếu tố thời tiết, độ ẩm, gió và độ che phủ, giúp đánh giá nguy cơ theo vùng, thời điểm. Hiện tại tuyến cơ sở, kiểm lâm viên không còn mang theo sổ tay đơn lẻ, giờ đây lực lượng này có điện thoại hoặc máy tính bảng tích hợp ứng dụng FRMS/S.M.A.R.T, ghi nhận tọa độ, hình ảnh, video, thời điểm và mọi dữ liệu được đồng bộ về trung tâm.
Hạt Kiểm lâm khu vực III được giao quản lý bảo vệ gần 37.000 ha rừng, địa bàn quản lý rộng, nhiều bản giao thông đi lại khó khăn, địa hình phức tạp. Trước thách thức đó, Hạt đã tích cực, chủ động phối hợp các xã, các đơn vị để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, trong đó chú trọng công tác ứng dụng công nghệ khoa học trong quản lý, bảo vệ rừng.
Hiện nay, đơn vị đã ứng dụng các phần mềm chuyên ngành như hệ thống theo dõi diễn biến rừng (FRMS Desktop), sử dụng bản đồ số, hệ thống các phần mềm (GIS) như Qgis, Mapinfor; ảnh viễn thám và các thiết bị định vị cầm tay GPS và các ứng dụng trên điện thoại thông minh để phục vụ công tác kiểm tra, tuần tra, giám sát tài nguyên rừng trên địa bàn.
Cùng với đó, Hạt thường xuyên khai thác và sử dụng hiệu quả hệ thống cảnh báo cảnh báo cháy rừng trực tuyến trên trang weds https://v2.pcccr.vn/diem-chay của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm để theo dõi, phát hiện sớm các điểm nguy cơ cháy rừng, qua đó kịp thời chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn tổ chức kiểm tra, xác minh thực địa và báo cáo kịp thời cho cấp trên khi có cháy xảy ra.
Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La được giao quản lý bảo vệ hơn 17.892 ha, trong đó đất có rừng là trên 14.070 ha. Trước đây, do địa bàn rộng, đồi núi chia cắt, lực lượng mỏng nên việc tuần tra, quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn, vất vả. Từ khi sử dụng phần mềm SMART phục vụ công tác tuần tra, kiểm tra đã giúp cán bộ kiểm lâm dễ dàng có được những hình ảnh và nắm bắt tình hình các khoảnh rừng. Qua đó, giúp cán bộ kiểm lâm theo dõi, nắm bắt những gì đang diễn ra trên diện tích rừng được phân công quản lý, kịp thời hướng dẫn chủ rừng thực hiện phương án trong trường hợp cần thiết.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, chuyển đổi số trong quản lý rừng là một trong những công cụ quan trọng. Khi dữ liệu được số hóa, khi mỗi tiểu khu, mỗi thửa rừng có hồ sơ điện tử rõ ràng, trách nhiệm quản lý trở nên minh bạch, việc truy trách nhiệm được thực hiện nhanh chóng và công bằng. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ vào quản lý rừng, không chỉ mang lại nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ hệ sinh thái rừng, mà còn góp phần hạn chế thấp nhất thiệt hại khi có cháy xảy ra.
Sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành, lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục xác định chuyển đổi số, ứng dụng khoa học-công nghệ là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng công tác quản lý, giám sát và bảo vệ rừng trong bối cảnh mới. Để nghị quyết đi vào thực tế, ngành lâm nghiệp đã đẩy mạnh ứng dụng các phần mềm, thiết bị công nghệ, nhất là công nghệ viễn thám vào hoạt động này và mang lại hiệu quả thiết thực.
Tổng diện tích rừng toàn quốc hiện nay là hơn 14 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 10 triệu ha và diện tích còn lại là rừng trồng. hiện 34/34 tỉnh, thành phố đều có rừng. Với diện tích rừng lớn, lực lượng mỏng cho nên việc ứng dụng các giải pháp công nghệ vào hoạt động quản lý, bảo vệ rừng là ưu tiên hàng đầu của lĩnh vực lâm nghiệp.
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mang lại động lực mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi số sâu rộng trong toàn lĩnh vực lâm nghiệp; đồng thời, tác động tích cực, toàn diện đến hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, phương thức quản lý, bảo vệ rừng đã có sự chuyển dịch rõ rệt từ thủ công, truyền thống sang hiện đại.
Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng giúp các cán bộ của ngành nâng cao khả năng giám sát, phân tích dữ liệu về rừng và đưa ra các quyết định một cách kịp thời, chính xác. Việc chuẩn hóa, liên thông cơ sở dữ liệu với các ngành, lĩnh vực khác giúp tăng cường tính minh bạch, hiệu quả trong phối hợp quản lý nhà nước./.
Bích Hà