Kinh tế số đang trở thành không gian tăng trưởng mới, tác động trực tiếp đến phương thức sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và quản trị. Công nghệ số, dữ liệu số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo giúp doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân nâng cao năng suất lao động sản xuất, giảm chi phí, mở rộng thị trường, đổi mới sản phẩm, dịch vụ và tạo nguồn thu nhập mới.
Đối với địa phương miền núi, địa bàn rộng, dân cư phân tán, địa hình chia cắt, đường xá đi lại khó khăn, kinh tế số còn tạo cơ hội khắc phục một phần hạn chế về khoảng cách địa lý, kết nối sản phẩm và dịch vụ tại cơ sở với thị trường trong nước và quốc tế.
Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt xác định xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; phát triển kinh tế số trong các ngành, lĩnh vực; lấy chất lượng, hiệu quả, tính bền vững và khả năng tạo giá trị làm thước đo. Chương trình đặt ra yêu cầu các địa phương lựa chọn lĩnh vực trọng tâm, tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện và lợi thế, đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu, phương pháp đo lường và cơ chế phối hợp liên ngành.
Tuyên Quang có tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, vùng nguyên liệu, công nghiệp chế biến nông, lâm sản, các sản phẩm thuộc chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) và đặc sản địa phương, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, thương mại và dịch vụ.
Đây là các lĩnh vực có khả năng ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ quản lý vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chế biến, quản trị doanh nghiệp đến quảng bá, giao dịch, thanh toán, vận tải, logistics và chăm sóc khách hàng. Việc tập trung ứng dụng công nghệ số để phát triển kinh tế trong các lĩnh vực này vừa phù hợp điều kiện thực tế, vừa mở ra hướng đi mới cho các địa phương trong tỉnh, đồng thời có khả năng tạo kết quả kinh tế trực tiếp trong giai đoạn 2026 – 2030.
Thời gian qua, tỉnh đã quan tâm phát triển hạ tầng viễn thông, nền tảng số, dữ liệu số, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, du lịch số và Tổ công nghệ số cộng đồng. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2025 đạt 7,39%; mục tiêu năm 2026 đạt 7,71%.
Tỉnh đã triển khai đưa nông sản, lâm sản và sản phẩm OCOP lên môi trường số; ứng dụng mã QR, truy xuất nguồn gốc; từng bước số hóa dữ liệu vùng sản xuất, vùng nguyên liệu, tài nguyên rừng, cảnh báo thiên tai và sâu bệnh. Đến tháng 5/2026, toàn tỉnh duy trì 357 sản phẩm OCOP còn hiệu lực của 298 chủ thể; 91/124 xã, phường có sản phẩm OCOP được công nhận; 100% sản phẩm OCOP đã được gắn tem truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.
Tuy nhiên, ứng dụng số và dữ liệu số trong quản lý vùng nguyên liệu, nhật ký điện tử, mã số vùng trồng, dự báo sản lượng, quản lý chất lượng, truy xuất xuyên suốt, hợp đồng, quản lý đơn hàng, logistics và dữ liệu khách hàng còn phân tán, chưa đồng đều. Nhiều mã QR mới cung cấp thông tin giới thiệu, chưa kết nối đầy đủ với dữ liệu sản xuất, giao dịch và phản hồi thị trường...
Trên địa bàn tỉnh đã có hơn 1.000 doanh nghiệp, chủ thể với 2.619 sản phẩm đang hoạt động, giới thiệu trên sàn thương mại điện tử của tỉnh; nhiều sản phẩm được giới thiệu trên các sàn và nền tảng phổ biến. Toàn tỉnh duy trì trên 260 mô hình chợ 4.0.
Trong lĩnh vực du lịch, văn hóa và sáng tạo nội dung số: Tại Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Na Hang, Lâm Bình, Sơn Dương và một số địa bàn khác, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ làm du lịch cộng đồng đã sử dụng mạng xã hội, nền tảng đặt dịch vụ và thanh toán số để quảng bá homestay, trải nghiệm, ẩm thực và sản phẩm địa phương.
Các địa phương đẩy mạnh tiêu thụ nông sản trên nền tảng số, sàn thương mại điện tử.
Tuy nhiên, dữ liệu điểm đến, cơ sở lưu trú, dịch vụ, lịch đặt, phản hồi du khách và sản phẩm địa phương chưa được chuẩn hóa đồng bộ; nhiều cơ sở phụ thuộc vào nền tảng bên thứ ba, chưa quản trị tốt dữ liệu khách hàng; kỹ năng xây dựng nội dung, bản quyền, bảo vệ hình ảnh cá nhân và ứng xử văn hóa trên môi trường số còn hạn chế.
Trước yêu cầu phát triển kinh tế số trong giai đoạn mới, Tuyên Quang sẽ thúc đẩy ứng dụng công nghệ, dữ liệu và nền tảng số, trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Qua đó, hình thành và nhân rộng mô hình kinh tế số có hiệu quả, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tại các địa phương.
Tuyên Quang đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% xã, phường lựa chọn, xây dựng hoặc tham gia ít nhất 01 mô hình kinh tế số phù hợp với tiềm năng, lợi thế và điều kiện thực tế; mô hình có thể triển khai độc lập, liên xã hoặc tham gia chuỗi do sở, ngành chủ trì, nhưng phải có chủ thể, sản phẩm hoặc dịch vụ, quy trình số, giao dịch và minh chứng kết quả. Hằng năm lựa chọn các mô hình có hiệu quả để đánh giá, lựa chọn, truyền thông và nhân rộng;
Duy trì 100% sản phẩm OCOP còn hiệu lực có mã QR truy xuất nguồn gốc hoạt động và thông tin được cập nhật; 100% sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên và sản phẩm chủ lực đủ điều kiện được chuẩn hóa thông tin số và có kênh quảng bá, giao dịch. 100% khu, điểm du lịch trọng điểm, làng văn hóa du lịch cộng đồng và cơ sở du lịch đủ điều kiện được số hóa thông tin; mở rộng kênh đặt dịch vụ, thanh toán và tiếp nhận phản hồi trên môi trường số.
100% Tổ công nghệ số cộng đồng có ít nhất một thành viên nòng cốt được cập nhật kỹ năng hỗ trợ kinh tế số; hình thành mạng lưới tư vấn, kèm cặp số phù hợp điều kiện địa phương. Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại chợ, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, điểm bán hàng, chủ thể OCOP và dịch vụ thiết yếu; theo dõi giá trị giao dịch theo khả năng cung cấp dữ liệu và phương pháp của ngành ngân hàng.
Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì hướng dẫn khung kỹ thuật, lựa chọn giải pháp, đánh giá công nghệ, an toàn dữ liệu và hiệu quả thử nghiệm; Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan chuyên ngành chủ trì xác định bài toán nghiệp vụ, cung cấp và quản lý dữ liệu, tổ chức vận hành và đánh giá kết quả thuộc lĩnh vực quản lý.
Ưu tiên các bài toán dự báo sản lượng, sâu bệnh, quản lý rừng, phân tích thị trường và trợ lý ảo tư vấn du lịch cộng đồng. Số hóa vùng sản xuất, vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, lô rừng, giống, mùa vụ, sản lượng và chất lượng; khuyến khích nhật ký điện tử, cảm biến, dữ liệu viễn thám, dự báo thời tiết, sâu bệnh và cháy rừng phù hợp quy mô.
Chuẩn hóa thông tin nông sản, lâm sản, sản phẩm dưới tán rừng, OCOP, đặc sản và sản phẩm làng nghề; duy trì truy xuất nguồn gốc có dữ liệu cập nhật, liên kết thông tin chủ thể, quy trình, chất lượng, kênh liên hệ và giao dịch. Hỗ trợ hợp tác xã, hộ sản xuất, chủ thể OCOP sử dụng công cụ số để quản lý thành viên, vật tư, sản lượng, hợp đồng, kế toán, đơn hàng, khách hàng, thanh toán và phản hồi thị trường.
Phát triển mô hình nông nghiệp số, lâm nghiệp số và OCOP số theo chuỗi sản phẩm cụ thể; ưu tiên sản phẩm chủ lực, vùng nguyên liệu tập trung, sản phẩm có chứng nhận, có khả năng chế biến và mở rộng thị trường. Kết nối dữ liệu vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, thương mại điện tử, vận tải và logistics; thúc đẩy hợp đồng điện tử, dự báo cung - cầu và liên kết sản xuất theo chuỗi.
Kết nối sản phẩm OCOP, nông sản, lâm sản, sản phẩm chế biến, đặc sản, sản phẩm du lịch với sàn thương mại điện tử, nền tảng kết nối cung - cầu, hệ thống phân phối và người tiêu dùng trong, ngoài tỉnh. Tổ chức phiên chợ số, tuần lễ sản phẩm, chương trình kết nối cung - cầu và chiến dịch tiêu dùng số gắn với đo lường số chủ thể, đơn hàng, doanh thu, khách hàng mới và tỷ lệ duy trì sau chương trình.
Tỉnh đẩy mạnh số hóa dữ liệu khu, điểm du lịch, nâng cao trải nghiệm du khách.
Phát triển dịch vụ logistics phù hợp với đặc điểm tỉnh miền núi và tận dụng tối đa lợi thế về cửa khẩu, lấy kết nối giao thông đường bộ và đường thủy nội địa làm trọng tâm. Ưu tiên thúc đẩy logistics theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ gắn với chuyển đổi số và logistics xanh, bền vững; gắn với sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, phân phối hàng hóa thiết yếu và phục vụ hoạt động xuất, nhập khẩu;
Chuẩn hóa và số hóa dữ liệu khu, điểm du lịch, làng văn hóa du lịch cộng đồng, cơ sở lưu trú, lữ hành, ăn uống, mua sắm, vận chuyển, trải nghiệm và sản phẩm địa phương; cập nhật vị trí, hình ảnh, video, giá, lịch hoạt động và thông tin liên hệ. Hỗ trợ cơ sở du lịch, hộ làm du lịch cộng đồng sử dụng kênh quảng bá, đặt dịch vụ, quản lý lịch, thanh toán, hóa đơn, chăm sóc khách hàng và tiếp nhận phản hồi; tăng khả năng bán chéo sản phẩm OCOP, ẩm thực và trải nghiệm.
Phát triển bản đồ số, thuyết minh số, mã QR điểm đến, trợ lý ảo và công cụ cá nhân hóa trải nghiệm phù hợp; ưu tiên dùng nền tảng hiện có và bảo đảm dữ liệu có thể cập nhật. Xây dựng, chuẩn hóa và nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng số, homestay ứng dụng số, điểm đến số và mô hình sáng tạo nội dung gắn với du lịch, văn hóa, cảnh quan và sản phẩm địa phương.
Ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã, hộ kinh doanh, hộ sản xuất ứng dụng công nghệ số trong quản trị, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, thanh toán và quản lý đơn hàng, gắn với sản phẩm OCOP, đặc sản địa phương, du lịch cộng đồng và điều kiện thực tế của từng địa bàn./.
Mạnh Cường