Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ngãi, tổng diện tích sản xuất hàng năm của tỉnh đạt 320.187 ha, trong đó lúa 96.462 ha, ngô 14.386 ha, lạc 6.280 ha, sắn 52.716 ha, rau các loại 17.898 ha, đậu các loại 3.659 ha, cà phê 32.495 ha, cao su 80.249 ha, mía 3.082 ha, mắc ca 4.492 ha, cây ăn quả 14.097 ha.
Đáng chú ý, khâu làm đất có tỷ lệ cơ giới hóa cao nhất, đạt trung bình 75% diện tích. Riêng đối với cây lúa tỷ lệ làm đất đạt 85%, chăm sóc phun thuốc 60%, thu hoạch đạt 75%; các cây ngô, lạc, rau, đậu tỷ lệ làm đất đạt 60% - 70%, phun thuốc 60%; các cây cà phê, mía, mắc ca, cây ăn quả các loại khâu làm đất, đào xới, phát cỏ đạt 75%, chăm sóc (phun thuốc, làm cỏ, tỉa cành) đạt 60% - 75%;
Về chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh sang hình thức trang trại tập trung với tổng đàn gia súc lớn hơn 91.500 con trâu, 370.900 con bò và trên 572.000 con lợn. Các trang trại quy mô lớn đã ứng dụng công nghệ chuồng kín, hệ thống làm mát/sưởi ấm tự động và cung cấp thức ăn, nước uống tự động đạt tỷ lệ 45%. Khâu xử lý chất thải bằng hầm Biogas và máy ép phân đạt 55%. Cơ giới hóa đã được áp dụng trong khâu đào ao, cải tạo ao nuôi bằng xe cơ giới như máy cạp, máy ủi, máy bơm nước, máy cào bùn. Các thiết bị sục khí, máy tự động đo chỉ số môi trường và hệ thống lọc nước tuần hoàn đã bắt đầu phổ biến.
Các địa phương đẩy mạnh cơ giới hóa trong toàn bộ các khâu của sản xuất nông nghiệp.
Diện tích rừng sản xuất lên đến 525.523 ha, đây là lĩnh vực có tiềm năng cơ giới hóa rất lớn. Khâu thu hoạch và vận chuyển gỗ rừng trồng có tỷ lệ cơ giới hóa ấn tượng. Tỷ lệ sử dụng máy cưa trong thu hoạch đạt 100%, các hoạt động khai thác, vận chuyển đạt 90%. Sản xuất muối tập trung tại phường Sa Huỳnh với diện tích khoảng 104 ha. Khâu vận chuyển muối từ đồng về kho bãi đạt tỷ lệ cao nhất là 90% nhờ sử dụng xe vận chuyển cơ giới.
Tuy nhiên, cơ giới hóa chưa đồng đều giữa các khâu sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp và sản xuất muối. Một số khâu chưa được quan tâm đầu tư cơ giới hóa như khâu gieo sạ, trồng; khâu chăm sóc trong trồng trọ Chưa có sự gắn kết giữa doanh nghiệp, HTX với người dân trong cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Các doanh nghiệp, HTX chưa đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Người dân sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng máy nên trong quá trình vận hành thường xảy ra sự cố, hư hỏng làm giảm hiệu suất sử dụng máy.
Trước thực tế trên, trong giai đoạn tới Quảng Ngãi đẩy mạnh ứng dụng các loại máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến, công nghệ số, công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao mức độ cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp, hướng đến cơ giới hóa đồng bộ. Phát triển các cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến quy mô vừa và nhỏ nhằm tạo sự đồng bộ, gắn kết, lan tỏa theo chuỗi giá trị. Đẩy mạnh chế biến các sản phẩm nông sản chủ lực và phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp.
Đối với lĩnh vực trồng trọt: Cơ giới hóa đồng bộ đối với các cây trồng chủ lực khâu làm đất đạt trên 80%, khâu chăm sóc đạt trên 70%; khâu thu hoạch lúa đạt trên 80%. Chăn nuôi: Cơ giới hóa đồng bộ đạt trên 60%. Thủy sản: Cơ giới hóa sản xuất nuôi trồng thủy sản đạt trên 40%; đánh bắt, bảo quản trên tàu cá đạt trên 95%. Lâm nghiệp: Cơ giới hóa các khâu làm đất, giống, trồng cây, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, phòng chống cháy rừng đạt trên 50%. Diêm nghiệp: Cơ giới hóa các khâu cấp nước, tiêu nước và vận chuyển đạt trên 90%;
Quảng Ngãi yêu cầu phát triển cơ giới hóa phải bám sát mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa các khâu sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi liên kết. Ưu tiên sử dụng máy móc, thiết bị chất lượng, tiên tiến, thông minh, công nghệ số (như Drone, hệ thống tưới tự động, cảm biến môi trường) và năng lượng tái tạo nhằm thúc đẩy nông nghiệp xanh, phát thải thấp. Quá trình cơ giới hóa phải đi đôi với việc dồn điền đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng và kiên cố hóa hạ tầng giao thông nội đồng, thủy lợi để máy móc công suất lớn có thể tiếp cận.
Nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao được nhiều địa phương đẩy mạnh triển khai (Ảnh minh họa).
Tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp, HTX, THT, trang trại, hộ gia đình đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo máy móc, thiết bị; đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị mới để hiện đại hóa trong quá trình sản xuất từ khâu giống đến chế biến. Đẩy mạnh cơ giới hóa ở khâu làm đất, tưới tiêu chủ động, chăm sóc. Khuyến khích mô hình có quy mô lớn, liên kết sản xuất theo chuỗi, các dự án đầu tư cơ giới hóa đồng bộ tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung.
Ưu tiên phát triển cơ giới hóa đối với sản xuất lúa tại các vùng đồng bằng tập trung và các loại cây nguyên liệu gắn với chế biến. Xây dựng các dự án hỗ trợ hệ thống làm mát, điều hòa khí hậu; hệ thống thiết bị xử lý chất thải chăn nuôi; Ưu tiên mô hình chăn nuôi trang trại quy mô lớn, liên kết sản xuất theo chuỗi.
Hỗ trợ cơ giới hóa trong thủy sản tập trung vào việc áp dụng máy móc, tự động hóa để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, giảm sức lao động. Cụ thể: Đối với nuôi trồng thủy sản: Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản; xây dựng và hình thành các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung quy mô lớn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến như: Sử dụng xe cuốc, xe ủi để đào ao, máy cào bùn và máy bơm nước công suất lớn để loại bỏ chất thải hữu cơ ao nuôi; sử dụng máy bơm thu hoạch, hệ thống vận chuyển và máy phân loại kích cỡ, giúp giảm thất thoát sau thu hoạch và nâng cao chất lượng sản phẩm...
Đối với khai thác thủy sản: Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng cảng cá, bến cá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến vào khai thác, bảo quản hải sản trên tàu cá như sử dụng máy tời lưới, máy rút lưới tự động, máy dò cá, định vị GPS để tăng hiệu quả tìm kiếm và thu hoạch; ứng dụng công nghệ làm lạnh, hầm bảo quản cách nhiệt giúp nâng cao chất lượng thủy sản, giảm tổn thất.
Ưu tiên đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hệ thống thuỷ lợi đồng muối, thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất, phát triển theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất muối. Khuyến khích đầu tư mới và mở rộng cơ sở chế biến, bảo quản đảm bảo đủ năng lực chế biến, bảo quản đối với những ngành hàng chủ lực, gắn với vùng sản xuất nguyên liệu tập trung.
Hỗ trợ nâng cấp nhà máy chế biến các sản phẩm nông, lâm sản; xây dựng cơ sở giết mổ tập trung, ứng dụng công nghệ trong giết mổ. Ưu tiên đầu tư nâng cấp công nghệ chế biến sâu cho các sản phẩm thế mạnh như sắn, gỗ nguyên liệu, sữa, bia và đặc biệt là dược liệu để tăng giá trị gia tăng và khả năng xuất khẩu. Xây dựng hệ thống kho bảo quản, sơ chế, đóng gói, sấy và vận chuyển chuyên dụng nhằm giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch.../.
Hà Vân