Thời gian qua, chính quyền và người dân tỉnh Tây Ninh tập trung đẩy mạnh triển khai Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Cụ thể, tỉnh Tây Ninh triển khai Đề án tại 17 xã và 1 phường thuộc vùng Đồng Tháp Mười, với quy hoạch vùng nguyên liệu hơn 10.500ha, gồm 3.500ha mít, 700ha xoài, 340ha sầu riêng và khoảng 6.000ha các loại cây trồng khác.
Đến cuối năm 2025, diện tích sản xuất cây ăn trái trong vùng Đề án đạt 7.148,5ha, tăng 3.182ha so với năm 2021. Cùng với mở rộng diện tích, phương thức sản xuất từng bước thay đổi theo hướng tập trung, an toàn và đáp ứng yêu cầu thị trường. Để những thay đổi trong sản xuất phát huy hiệu quả, hạ tầng vùng nguyên liệu cũng từng bước được Tây Ninh hoàn thiện.
Trong giai đoạn thực hiện Đề án, 2 tuyến đường giao thông nông thôn, 3 cây cầu, 1 nhà kho và nhà sơ chế mít đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư, nông sản và tổ chức thu mua tập trung. Cùng với hạ tầng, Hợp tác xã được xác định là lực lượng nòng cốt để tổ chức lại sản xuất.
Giai đoạn 2022-2025, tỉnh thành lập mới 4 Hợp tác xã, nâng tổng số Hợp tác xã cây ăn trái trong vùng Đề án lên 15 Hợp tác xã. 15 lớp tập huấn và 1 hội thảo chuyên đề được tổ chức, thu hút hơn 700 lượt người; 7 mô hình khuyến nông đối với mít, sầu riêng, bưởi được xây dựng. Theo đại diện phòng Kinh tế xã Bình Hiệp, Hợp tác xã giúp tập hợp nông dân, thống nhất quy trình sản xuất và tạo đầu mối kết nối doanh nghiệp.
Hợp tác xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất theo cùng một quy trình, kiểm soát chất lượng và kết nối đầu ra. Khi có vùng nguyên liệu tập trung, doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn trong việc thu mua, sơ chế và xây dựng chuỗi sản phẩm.
Bên cạnh đó, liên kết chuỗi bước đầu được hình thành với các dự án sản xuất - tiêu thụ 36ha mít và 28ha sầu riêng. Cùng với đó địa phương hỗ trợ các Hợp tác xã về nguồn vốn. Cụ thể, hai Hợp tác xã được vay 2 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã; nông dân trong vùng Đề án được hỗ trợ 7,35 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân. Năm Hợp tác xã, trang trại được hỗ trợ đạt chứng nhận VietGAP trên diện tích 122,2ha, sản lượng hơn 3.000 tấn/năm.
Tây Ninh đẩy mạnh triển khai mã số vùng trồng và canh tác theo tiêu chuẩn VietGap để nâng cao chất lượng nông sản. (Ảnh minh hoạ).
Một trong những kết quả quan trọng của Đề án là xây dựng mã số vùng trồng. Theo kết quả thực hiện Đề án đến cuối năm 2025, tỉnh có 35 mã số vùng trồng với tổng diện tích 592,61ha đối với các loại cây như thanh long, chanh, sầu riêng, xoài, chuối, mít, bưởi,… phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường. Ở quy mô toàn tỉnh, hệ thống vùng nguyên liệu và các điều kiện phục vụ xuất khẩu đã được mở rộng.
Toàn tỉnh có 464 mã số vùng trồng, 193 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động, 202 cơ sở áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, 6 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 46 chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn. Cùng với tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng.
Chương trình OCOP đã có 417 sản phẩm được công nhận, gồm 1 sản phẩm 5 sao, 87 sản phẩm 4 sao và 329 sản phẩm 3 sao; hình thành 13 điểm giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm. Nhiều sản phẩm như bánh tráng, mãng cầu, sầu riêng và các sản phẩm chế biến từ nông sản từng bước khẳng định thương hiệu, mở rộng thị trường, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho ngành Nông nghiệp. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin, việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Tây Ninh.
Tuy nhiên, giai đoạn tới cần chuyển từ hình thành diện tích sản xuất tập trung sang tổ chức sản xuất theo chuỗi, gắn với yêu cầu của doanh nghiệp và từng thị trường. Trong giai đoạn tới, ngành tập trung nâng chất các vùng nguyên liệu đã hình thành, mở rộng mã số vùng trồng phù hợp với nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực Hợp tác xã và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia liên kết ngay từ khâu tổ chức sản xuất.
Cùng với đó, người dân cần được hướng dẫn thực hiện đúng quy trình, kiểm soát vật tư đầu vào, ghi chép nhật ký sản xuất và bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Vùng nguyên liệu chỉ thực sự bền vững khi sản phẩm có tiêu chuẩn, có khả năng truy xuất, có cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến và có thị trường tiêu thụ ổn định. Tuy nhiên, hạ tầng phục vụ sản xuất ở một số nơi chưa đồng bộ, cơ sở bảo quản và chế biến còn hạn chế, năng lực một số Hợp tác xã chưa đáp ứng yêu cầu và doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi chưa nhiều.
Đây là những khó khăn cần được tháo gỡ để vùng nguyên liệu không chỉ được hình thành mà còn vận hành hiệu quả. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng tiếp tục đầu tư giao thông, thủy lợi nội đồng, điện sản xuất, kho lạnh, nhà sơ chế, xưởng chế biến và bãi tập kết nguyên liệu; nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ, nâng cao năng lực Hợp tác xã và mở rộng vùng sản xuất đạt chuẩn.
Nâng chuẩn vùng nguyên liệu là hướng đi cần thiết để Tây Ninh nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản. Khi quy trình sản xuất được kiểm soát, nguồn gốc được truy xuất và liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp được củng cố, sản phẩm sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Đây không chỉ là giải pháp mở rộng thị trường mà còn góp phần nâng giá trị, xây dựng thương hiệu và tạo đầu ra ổn định cho nông sản địa phương. Về lâu dài, vùng nguyên liệu đạt chuẩn sẽ trở thành nền tảng để Tây Ninh tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.
Trần Vương