Phát triển nuôi biển công nghệ cao, thúc đẩy tăng trưởng xanh

29/10/2026 15:40

MTNN Trong chiến lược phát triển kinh tế biển, An Giang đang từng bước khẳng định hướng đi mới: Nuôi biển theo hướng đa loài, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Nuôi trồng thủy sản trên biển đang trở thành một trong những hướng phát triển quan trọng của ngành thủy sản tỉnh An Giang, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và tạo sinh kế ổn định cho người dân vùng ven biển, hải đảo.

Hiện nay, nuôi biển của tỉnh đã có những bước phát triển đáng kể, tập trung chủ yếu tại đặc khu Kiên Hải, đặc khu Phú Quốc, đặc khu Thổ Châu và một số xã đảo, ven biển: Hòn Nghệ, Sơn Hải, Tiên Hải, Kiên Lương với các đối tượng nuôi chủ lực, như cá bóp, cá mú, cá chim vây vàng, cá chẽm… Kiên Hải và Phú Quốc được xác định là trung tâm nuôi biển của tỉnh, có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, vùng nước kín gió, môi trường biển thuận lợi cho nuôi lồng bè và phát triển các mô hình nuôi biển quy mô lớn. 

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, An Giang xác định mục tiêu đến năm 2030 sẽ nâng tầm nghề nuôi biển phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại và ứng dụng công nghệ cao. Các khu vực trọng điểm như Kiên Hải và Phú Quốc sẽ trở thành trung tâm nuôi biển công nghiệp của vùng, khép kín chuỗi giá trị từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến chế biến sâu và xuất khẩu. 

Hoạt động nuôi biển tập trung chủ yếu tại đặc khu Kiên Hải, đặc khu Phú Quốc, đặc khu Thổ Châu. 

Tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp quy mô lớn với tổng diện tích gần 3.000 ha mặt nước biển. Trong đó, có 3 dự án hạt nhân gồm: Công ty TNHH Nuôi trồng và Xuất nhập khẩu Thủy hải sản Phú Quốc, Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam, Công ty TNHH Mavin Nam Du. Đồng thời, xây dựng các dự án tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp đầu tư phát triển nuôi cá lồng bè, khơi dậy tiềm năng nuôi biển quy mô công nghiệp. 

Sự tham gia của các tập đoàn lớn là "cú hích" quan trọng giúp nghề nuôi biển thay đổi từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp hiện đại, bền vững. Qua đó, góp phần chuyển đổi từ nuôi trồng quy mô nhỏ lẻ, tự phát của hộ gia đình sang mô hình nuôi biển công nghiệp tập trung, đặc biệt thúc đẩy sử dụng lồng nhựa HDPE chịu lực, hệ thống giám sát tự động và quy trình đạt chuẩn, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong nuôi biển.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, trong giai đoạn 2021-2026, ngành nuôi biển An Giang đã ghi nhận kết quả ấn tượng. Tổng sản lượng nuôi biển của tỉnh bứt phá vượt bậc từ 69.269 tấn (năm 2021) lên ước đạt 133.000 tấn (năm 2026), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,9%/năm; tổng giá trị sản xuất toàn giai đoạn ước đạt tới 2.700 tỷ đồng. Cơ cấu nuôi biển của An Giang hiện hình thành rõ nét ở hai nhóm mũi nhọn là nuôi cá lồng bè ven đảo và nuôi nhuyễn thể bãi triều, ngọc trai. 

Đáng chú ý, số lượng lồng nuôi tăng từ 3.612 lồng (năm 2021) lên 6.115 lồng (năm 2026), cung ứng khoảng 7.000 tấn cá đặc sản mỗi năm. Điểm sáng lớn là ngành nông nghiệp tỉnh đã thử nghiệm thành công 117 lồng nuôi vật liệu mới HDPE chịu sóng gió, đồng thời áp dụng quy trình VietGAP cho các loài cá giá trị cao như cá mú trân châu, cá bớp, cá chim vây vàng. Diện tích nuôi nhuyễn thể ven biển mở rộng lên 24.950ha vào năm 2026, mang lại sản lượng 113.156 tấn. Đặc biệt, nghề nuôi trai cấy ngọc tại đảo Phú Quốc duy trì diện tích 300ha, cho sản lượng ổn định khoảng 350.000 viên ngọc trai/năm, mô hình kết hợp hoàn hảo giữa kinh tế biển và du lịch sinh thái trải nghiệm.

Hoạt động nuôi biển vẫn còn nhiều khó khăn cần được tháo gỡ để phát triển bền vững. 

Mặc dù đạt kết quả tích cực, nuôi biển của An Giang vẫn còn những hạn chế. Phần lớn cơ sở nuôi có quy mô nhỏ, sử dụng lồng bè gỗ, phụ thuộc nhiều vào cá tạp làm thức ăn. Chi phí con giống và thức ăn cao, giá bán thiếu ổn định, trong khi liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa chặt chẽ. Công tác xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế; khả năng tiếp cận tín dụng phục vụ chuyển đổi công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, triều cường và hiện tượng tảo nở hoa đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn cho các công trình nuôi. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để tạo nền tảng cho bước chuyển từ nuôi biển phân tán sang sản xuất công nghiệp.

Trước tình hình trên một trong những hướng đi quan trọng cần được triển khai hình thành các vùng nuôi tập trung, có hạ tầng đồng bộ và phương thức tổ chức sản xuất chuyên nghiệp. Mô hình làng nuôi biển hiện đại có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, cung ứng dịch vụ đầu vào và tổ chức tiêu thụ; ngư dân, hợp tác xã tham gia sản xuất trên cơ sở sử dụng chung hạ tầng, tuân thủ quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật. Để triển khai hiệu quả, An Giang cần xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với từng đối tượng nuôi; đồng thời xác định rõ trách nhiệm quản lý môi trường, an toàn công trình và hoạt động sản xuất tại mỗi vùng nuôi.

Với nhiệm vụ ứng dụng khoa học-công nghệ cần tập trung vào những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và rủi ro. Việc sử dụng lồng nuôi HDPE có khả năng chịu sóng gió tốt, cải tiến quy trình nuôi, tăng cường quan trắc môi trường và quản lý vùng nuôi theo sức tải sinh thái sẽ góp phần giảm thiệt hại do thời tiết, dịch bệnh. Cùng với đó là nghiên cứu thay thế thức ăn cá tạp, chủ động nguồn giống và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Đến năm 2030, An Giang đặt mục tiêu tổng sản lượng nuôi biển đạt 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai. Tỉnh định hướng phát triển 14.000 lồng nuôi, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao, với sản lượng dự kiến đạt 99.000 tấn. Diện tích nuôi nhuyễn thể phấn đấu đạt 26.900ha, sản lượng 151.000 tấn, gồm các đối tượng như sò, hàu, trai ngọc, vẹm xanh, ốc hương và những loài phù hợp khác. Giá trị sản xuất nuôi biển dự kiến đạt 19.487 tỷ đồng theo giá hiện hành, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 24,3%/năm, tạo việc làm cho hơn 47.000 lao động.

Về không gian phát triển, các khu vực hải đảo Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu, Tiên Hải, Sơn Hải và Hòn Nghệ được định hướng trở thành địa bàn trọng điểm nuôi cá biển công nghiệp bằng lồng bè tròn vật liệu HDPE. Các đối tượng chủ lực gồm cá mú, cá bớp, cá chẽm và cá chim vây vàng; kết hợp nuôi ngọc trai, ốc hương, tôm hùm xanh, bào ngư, trồng rong biển và phát triển du lịch trải nghiệm.

Tại vùng bãi triều ven biển từ Vân Khánh, Đông Hưng, Tân Thạnh, Tây Yên, Hòn Đất đến Kiên Lương, Tô Châu, trọng tâm là phát triển các loài nhuyễn thể như sò huyết, hàu đại dương, vẹm xanh, nghêu lụa và sò lông. Việc bố trí vùng nuôi phải gắn với bảo vệ rừng ngập mặn phòng hộ, duy trì các bãi đẻ tự nhiên và hạn chế tác động đến hệ sinh thái ven bờ.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, nhiều chuyên gia cho rằng An Giang có thể đa dạng hóa đối tượng nuôi theo lợi thế sinh thái và nhu cầu thị trường. Bên cạnh cá mú, cá bớp, cá chẽm, cá chim vây vàng, các loài có tiềm năng gồm cầu gai sọ dừa, ghẹ xanh Hàm Ninh, mực An Thới, tôm hùm, hải sâm, rong đỏ Hải Tùng và các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Việc lựa chọn đối tượng cần đi đôi với đánh giá điều kiện môi trường, khả năng tiếp nhận công nghệ và hiệu quả đầu ra, tránh phát triển tự phát.

Thúc đẩy liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp cung ứng đầu vào, cơ sở chế biến và đơn vị xuất khẩu sẽ giúp nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm đặc trưng, phát triển chế biến sâu và mở rộng kênh tiêu thụ là những giải pháp quan trọng để nâng giá trị gia tăng thay vì chỉ tăng sản lượng.

Tỉnh cần có cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư dài hạn, hỗ trợ tín dụng và chuyển giao công nghệ cho các cơ sở nuôi đủ điều kiện. Đào tạo nhân lực kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã và tăng cường kết nối giữa cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp sẽ giúp rút ngắn quá trình đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất./.

 

Mai Trang

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/phat-trien-nuoi-bien-cong-nghe-cao-thuc-day-tang-truong-xanh.html

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Gắn nhiệm vụ an ninh phi truyền thống với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội

Sau hơn một năm triển khai ‘Chiến lược tổng thể quốc gia phòng ngừa, ứng phó các đe dọa an ninh phi truyền thống’ vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cả về nhận thức và hành động. Vẫn còn tư tưởng coi đây là nhiệm vụ riêng của lực lượng công an; một số nhiệm vụ chậm tiến độ, nhất là xây dựng các kịch bản khung ứng phó.

Đắk Lắk tăng cường quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành chỉ thị về tăng cường quản lý, bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Trọng tâm là siết chặt kiểm tra, xử lý vi phạm về xả thải, kiểm soát ô nhiễm tại các trang trại, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học và kinh tế tuần hoàn.

Bạn đọc quan tâm

Mới nhất
Xem nhiều nhất
Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com