Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác đang chịu ảnh hưởng từ tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như chịu tác động ngày càng rõ nét từ xu hướng chuyển đổi xanh toàn cầu, đặc biệt thông qua các cơ chế và cam kết quốc tế. Bên cạnh đó, xu thế gần đây cho thấy, các tập đoàn đa quốc gia và nhà bán lẻ lớn đang áp dụng tiêu chí dấu chân carbon trong lựa chọn nhà cung cấp, với mục tiêu cắt giảm 30-50% phát thải phạm vi 3 và yêu cầu sử dụng 100% năng lượng tái tạo trong chuỗi cung ứng vào giai đoạn 2030-2040.
Theo các chuyên gia môi trường, chính những áp lực này khiến việc phát triển KCN sinh thái không chỉ là yêu cầu từ bên ngoài, mà trở thành đòi hỏi tự thân để doanh nghiệp và KCN tại Việt Nam duy trì vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam từng bước hoàn thiện khung chính sách cho KCN sinh thái, với việc ban hành Nghị định số 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý KCN và KKT, lần đầu tiên quy định rõ khái niệm, tiêu chí và lộ trình chuyển đổi KCN sinh thái trong quản lý KCN và KKT.
Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển KCN sinh thái là nhiệm vụ quan trọng cần được đẩy mạnh triển khai.
Tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích và có biện pháp hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư mới hoặc chuyển đổi toàn bộ hoặc một phần KCN đã được thành lập sang hoạt động theo loại hình KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN sinh thái, KCN công nghệ cao theo quy định tại Nghị định này. Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng và dự án đầu tư trong KCN hỗ trợ, KCN chuyên ngành, KCN sinh thái, KCN công nghệ cao được hưởng ưu đãi áp dụng theo địa bàn và ngành, nghề
UBND cấp tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào KCN hiện hữu để kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp trong KCN thực hiện cộng sinh công nghiệp và chuyển đổi thành KCN sinh thái; Hỗ trợ đầu tư xây dựng mới và thu hút đầu tư vào KCN sinh thái; Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ để doanh nghiệp trong KCN cải tiến quy trình quản lý và vận hành, đổi mới công nghệ sản xuất để giảm các nguồn gây ô nhiễm, tái sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu, sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Tại tỉnh Gia Lai, trong bối cảnh tỉnh đặt mục tiêu phát triển khu công nghiệp sinh thái, yêu cầu đặt ra là mở rộng ứng dụng các giải pháp có hiệu quả thực tế, đồng thời tăng liên kết giữa các doanh nghiệp để sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Theo Sở Công Thương, toàn tỉnh có khoảng 2.500 doanh nghiệp (DN) công nghiệp hoạt động trong khu kinh tế, khu công nghiệp và hoạt động độc lập. Trong đó, 1.850 DN thuộc ngành chế biến, chế tạo; 470 DN thuộc ngành sản xuất, phân phối điện…
Theo Ban Quản lý KKT tỉnh, các DN trong KKT, KCN đang từng bước ứng dụng giải pháp sản xuất xanh, tuần hoàn nhằm tiết kiệm chi phí, xử lý chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đến nay, tại các KKT, KCN, không có cơ sở thuộc danh sách gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; có 154 dự án/144 DN đạt chứng nhận DN xanh.
Định hướng này được cụ thể hóa tại kế hoạch của UBND tỉnh về thực hiện KCN sinh thái trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thực hiện chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp sinh thái trên địa bàn tỉnh Gia Lai; lồng ghép thành lập mới các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai theo hướng sinh thái đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Giai đoạn từ năm 2026 - 2030: 100% các công ty đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp được tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương về việc chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp sinh thái và thành lập mới các khu công nghiệp sinh thái, doanh nghiệp sinh thái dựa trên phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua thực hiện cộng sinh công nghiệp, kinh tế tuần hoàn trong khu công nghiệp.
Tối thiểu 01 khu công nghiệp hiện hữu chuyển đổi thành khu công nghiệp sinh thái đến năm 2030; trước mắt lựa chọn Khu công nghiệp Becamex – VSIP Bình Định để khảo sát, đánh giá và triển khai lộ trình đáp ứng tiêu chí, đăng ký chứng nhận theo quy định. Số khu công nghiệp sinh thái dự kiến thành lập mới đến năm 2030: 01–02 khu công nghiệp; lựa chọn dự án phù hợp quy hoạch, điều kiện thu hút đầu tư và khả năng triển khai, xác định loại hình sinh thái và lộ trình đáp ứng tiêu chí ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Tổng số khu công nghiệp sinh thái dự kiến đạt được đến năm 2030: 02–03 khu công nghiệp, phấn đấu tỷ lệ khoảng 10% trên tổng số 25 khu công nghiệp dự kiến của tỉnh.
Gia Lai từng bước chuyển đổi, hoàn thiện hạ tầng phát triển KCN sinh thái.
Ngành chức năng theo dõi riêng số khu công nghiệp được xác định loại hình sinh thái khi thành lập và số khu công nghiệp đã được chứng nhận, bảo đảm phản ánh đúng tình trạng thực hiện. Tối thiểu 10% doanh nghiệp trong các khu công nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn, đạt kết quả tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, hóa chất, chất thải, phế liệu và giảm phát thải ra môi trường.
Đối với từng khu công nghiệp đăng ký chứng nhận sinh thái, đáp ứng đầy đủ tiêu chí theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP và Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT; trong đó tối thiểu 20% doanh nghiệp trong khu công nghiệp áp dụng giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn. Chỉ tiêu 10% doanh nghiệp trên toàn tỉnh là mục tiêu thúc đẩy chung, không thay thế tiêu chí chứng nhận từng khu công nghiệp. Phấn đấu 90% khu công nghiệp được tiếp cận, hướng dẫn các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo dõi riêng số lượng, tỷ lệ khu công nghiệp đã áp dụng và kết quả tiết kiệm năng lượng; xây dựng lộ trình áp dụng trên cơ sở khảo sát, điều kiện hạ tầng và nguồn lực thực tế.
Giai đoạn từ năm 2031 - 2050 (dài hạn): Tiếp tục nhân rộng mô hình khu công nghiệp sinh thái, doanh nghiệp sinh thái; tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch theo lộ trình, phù hợp quy hoạch, khả năng cung ứng và quy định pháp luật; phát triển cộng sinh công nghiệp, tái sử dụng, tái chế, giảm thiểu chất thải phải xử lý hoặc thải bỏ ra môi trường.
Đối với khu công nghiệp mới, lồng ghép loại hình sinh thái, ngành nghề thu hút đầu tư, hạ tầng, phương án cộng sinh, giám sát đầu vào, đầu ra, trách nhiệm xã hội và lộ trình đáp ứng tiêu chí ngay từ giai đoạn quy hoạch, chuẩn bị đầu tư theo quy định; ưu tiên lựa chọn 01 - 02 dự án có khả năng triển khai đến năm 2030. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp, sử dụng hiệu quả quỹ đất hiện hữu; hạn chế tác động đến rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và khu vực có giá trị đa dạng sinh học. Trường hợp mở rộng, điều chỉnh ranh giới hoặc đầu tư công trình kết nối ảnh hưởng đến rừng, đất lâm nghiệp, chủ đầu tư rà soát hiện trạng, nguồn gốc đất và thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng, trồng rừng thay thế và nghĩa vụ liên quan khi thuộc đối tượng theo quy định.
Tỉnh phát triển năng lượng tái tạo phù hợp quy hoạch và quy định; rà soát, đầu tư, nâng cấp, vận hành hệ thống thu gom, thoát nước mưa; thu gom, xử lý nước thải tập trung; công trình phân loại, lưu giữ chất thải; quan trắc môi trường theo đối tượng phải thực hiện; công trình phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. Nước thải sau xử lý chỉ được tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và pháp luật có liên quan.
Phát triển hạ tầng logistics, kho lạnh, dịch vụ hỗ trợ phù hợp quy hoạch và nhu cầu; hoàn thiện cây xanh, hạ tầng kỹ thuật và giải pháp nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động. Ưu tiên thu hút dự án công nghệ cao, công nghệ sạch, ít phát thải; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn thông qua cộng sinh công nghiệp, sản xuất sạch hơn. Khuyến khích trao đổi, tái sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, phụ phẩm, chất thải, phế liệu và sử dụng chung dịch vụ môi trường đáp ứng điều kiện theo pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan.
Bảo đảm hạ tầng thoát nước đồng bộ với khu vực, khả năng tiêu thoát lũ, không làm gia tăng ngập úng cho khu vực xung quanh; nghiên cứu thu gom, lưu giữ, tái sử dụng nước mưa. Không lấn chiếm phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, ảnh hưởng an toàn, cấp nước và tiêu thoát nước; việc di dời, hoàn trả, cải tạo công trình phải được thực hiện, chấp thuận theo thẩm quyền và quy định. Đẩy mạnh hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu - ứng dụng và chuyển giao công nghệ sạch; hỗ trợ các doanh nghiệp trong khu công nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản lý tiên tiến (ISO 14001, ISO 50001, ISO 14064...).
Giai đoạn 2026 - 2027: Khảo sát, thống nhất dữ liệu hiện trạng; lựa chọn khu công nghiệp thí điểm; xây dựng phương án chuyển đổi, xác định nội dung thiếu so với tiêu chí, nguồn lực và tiến độ; lựa chọn, xúc tiến dự án khu công nghiệp sinh thái mới. Giai đoạn 2028 - 2030: Triển khai giải pháp hạ tầng, công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và cộng sinh công nghiệp; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi, được chứng nhận tối thiểu 01 khu công nghiệp hiện hữu.
Đối với 01 - 02 khu công nghiệp mới, hoàn thành thủ tục đầu tư để được xác định đã thành lập theo loại hình sinh thái, triển khai hạ tầng và lộ trình đáp ứng tiêu chí; thực hiện chứng nhận khi đủ điều kiện. Theo dõi riêng kết quả thành lập mới với kết quả chứng nhận, không đồng nhất hai mốc; sơ kết năm 2028, tổng kết năm 2030. Giai đoạn 2031 - 2050: Nhân rộng mô hình, cập nhật mục tiêu và giải pháp theo kế hoạch 05 năm; duy trì, giám sát tiêu chí sinh thái, nâng cao hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải, hướng tới phát thải ròng bằng “0”./.
Đức An
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/phat-trien-cac-khu-cong-nghiep-sinh-thai-gan-voi-muc-tieu-bao-ve-moi-truong.html