Trong những năm gần đây, bão, mưa lớn, lũ, lũ quét, sạt lở đất, nắng nóng, hạn hán và xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, nhiều hiện tượng có tính cực đoan, gây sức ép lớn đối với công tác phòng ngừa và ứng phó thiên tai. Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ đánh giá năm 2024 và 2025 liên tiếp xảy ra các trận bão, mưa lũ lớn vượt mức lịch sử, ngập lụt nghiêm trọng, sạt lở đất, lũ ống, lũ quét tại nhiều địa phương, gây thiệt hại lớn về người, tài sản và cơ sở hạ tầng.
Trong bối cảnh đó, dự báo và cảnh báo sớm trở thành một khâu quan trọng của phòng ngừa rủi ro thiên tai. Dự báo bão giúp chủ động phương án bảo đảm an toàn cho người dân và tàu thuyền; thông tin về mưa lớn, lũ, lũ quét, sạt lở đất hỗ trợ xác định khu vực nguy hiểm, tổ chức sơ tán; dự báo nguồn nước, hạn hán, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất và quản lý tài nguyên nước.
Theo Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến tháng 9/2026, toàn ngành có hơn 2.800 trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, ra-đa... Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cung cấp khoảng 9.000 bản tin mỗi năm, trong khi các đài khu vực và địa phương cung cấp gần 50.000 bản tin. Hệ thống này được hỗ trợ bởi Trung tâm dữ liệu đạt chuẩn Tier 3, hệ thống siêu máy tính, dữ liệu lớn và các mô hình dự báo số trị.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiệm vụ hiện đại hóa hệ thống trạm quan trắc khí tượng thủy văn được triển khai hiệu quả với tỷ lệ tự động hóa đo mưa đạt 100%, dông sét đạt 100%; quan trắc khí tượng đạt 65%, đo mưa đạt 100%, dông sét đạt 100%, thủy văn đạt 69% và hải văn đạt 74%, cảnh báo lũ đạt khoảng 60-70%; dự báo hạn ngắn đạt từ 82-85%; hạn vừa đạt 70-80%; hạn dài đạt 65-70%. Số liệu quan trắc tại các trạm thuộc hệ thống khí tượng thủy văn quốc gia được thu nhận sát theo thời gian thực.
Cùng với đó là việc xây dựng Trung tâm dữ liệu (Data center) đạt gần tới tiêu chuẩn quốc tế Tier 3 đảm bảo hoạt động ổn định hạ tầng công nghệ thông tin. Xây dựng được hệ thống hội thảo trực tuyến từ trung ương đến 3 Đài Khí tượng Thủy văn Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và 31 Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh, thành phố nhằm đảm bảo công tác hội thảo trực tuyến nghiệp vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thông suốt nhất là hội thảo khi có thiên tai nguy hiểm xảy ra như bão, lũ…
Ngành phát triển và hình thành một mô hình hoạt động nghiệp vụ khí tượng thủy văn tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống. Theo đó, toàn bộ dữ liệu khí tượng thủy văn trong và ngoài nước được tích hợp, tổ chức xử lý, lưu trữ, khai thác và cung cấp theo hướng tập trung, đồng bộ. Dữ liệu được chia sẻ đến cấp trên và các đơn vị cấp trên phục vụ công tác điều hành, chỉ đạo về phòng chống thiên tai như Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự Quốc gia, Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai, ...
Đồng thời thực hiện quản trị và hoàn thiện quy trình vận hành hệ thống thiết bị tính toán hiệu năng cao Cray XC40-AC; vận hành và đảm bảo hoạt động hệ thống các phần mềm nghiệp vụ; hệ thống CDH (hệ thống quản lý, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn); ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, khai thác, chia sẻ thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn; mô hình dự báo số trị và các công nghệ tiên tiến. Đầu tư mở rộng các trạm thông tin vệ tinh mặt đất, thiết bị thông tin lưu động; vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo đa thiên tai, kết hợp với hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
Cảnh báo sớm tình hình thiên tai giúp các địa phương chủ động phương án ứng phó, giảm thiệt hại.
Việc ứng dụng công nghệ đã góp phần kéo dài thời gian dự báo, cảnh báo. Theo Cục Khí tượng Thủy văn, các ứng dụng công nghệ mới đã góp phần nâng thời gian dự báo bão, áp thấp nhiệt đới từ 24 giờ lên 36 giờ; với nhiều cơn bão có quỹ đạo ổn định, thời gian dự báo trước đạt 60-72 giờ. Đối với các đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại, thời gian cảnh báo đạt 48-72 giờ. Ngành cũng đã phát triển công nghệ phục vụ dự báo điểm chi tiết tại khoảng 600 điểm trên toàn quốc.
Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 213-KL/TW yêu cầu tập trung dự báo sớm, chi tiết các loại hình thiên tai cực đoan như mưa lớn cục bộ, lũ đặc biệt lớn, sạt lở đất, lũ quét, dông, lốc; đồng thời hoàn thiện phương án ứng phó với từng loại hình thiên tai, xác định các khu vực nguy cơ cao để chủ động sơ tán, di dời người dân khi cần thiết. Chỉ thị cũng yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và gắn chặt thông tin dự báo với chỉ đạo ứng phó.
Trước đó, Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2026 đặt nhiệm vụ hiện đại hóa mạng lưới khí tượng thủy văn, nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo thiên tai, nhất là đối với lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đây là sự cụ thể hóa yêu cầu đưa khoa học, công nghệ và dữ liệu vào công tác phòng ngừa rủi ro, đồng thời gắn năng lực khí tượng thủy văn với yêu cầu phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định rõ mục tiêu đến năm 2050 mạng lưới trạm sẽ tăng lên 5.886 trạm. Trong đó, chuyển đổi hầu hết các trạm khí tượng thủy văn sang tự động hoàn toàn theo mô hình mạng lưới trạm khí tượng thủy văn hiện đại của các nước phát triển.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ, ngành liên quan, các địa phương tiếp tục thực hiện đầu tư các dự án đã xác định nguồn vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025. Các dự án dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 hoặc sau năm 2030 sẽ lấy từ nguồn đầu tư công và nguồn khác ngoài ngân sách nhà nước.
Việc đầu tư các dự án kết hợp cả phát triển mới, hoàn thiện các trạm khí tượng thủy văn với việc nâng cấp, bổ sung và hiện đại hóa trang thiết bị quan trắc hiện có theo hướng tự động, hiện đại. Trong đó, tập trung hoàn thiện các trạm khí tượng thủy văn cơ bản theo các tiêu chí trong quy hoạch. Đây là những trạm nền, đóng vai trò nòng cốt trên mạng lưới và phản ánh đặc trưng khí tượng, thủy văn, hải văn của vùng hoặc lưu vực sông, có quan trắc viên.
Đối với các trạm khí tượng thủy văn phổ thông - đóng vai trò tăng dầy mật độ quan trắc - sẽ đầu tư 100% trạm quan trắc tự động. Kế hoạch ưu tiên phát triển mới và nâng cấp hệ thống các trạm ra đa thời tiết tại khu vực thường xuyên xảy ra mưa, lũ, bão, sạt lở đất; tăng dày mật độ trạm tự động tại các vùng, khu vực thường xuyên chịu tác động của các loại hình thiên tai khí tượng thủy văn, khu vực ven biển và hải đảo, vùng trống số liệu quan trắc.
Các dự án đầu tư cũng tập trung nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và công nghệ dự báo, hiện đại hóa hệ thống cơ sở dữ liệu và chuyển đổi số ngành khí tượng thủy văn. Đồng thời, ưu tiên nâng cấp hệ thống kiểm định phương tiện đo khí tượng thủy văn./.
Hà Trang