Hệ thống sông, suối, kênh rạch và hồ của TP. HCM góp vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước, giảm ngập, cải thiện môi trường vi khí hậu và bảo đảm an toàn nguồn cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất. Bên cạnh đó, tạo nền tảng cho phát triển giao thông thủy, du lịch, cảnh quan đô thị và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp - thủy sản ở các khu vực ven đô.
Qua kết quả điều tra, đánh giá các nguồn thải cho thấy tổng lưu lượng nước thải từ các nguồn thải vào sông, hồ nội thành trên địa bàn thành phố là 807.828 m3 /ngày đêm với tải lượng các chất ô nhiễm: COD là 1.849.203 tấn/năm, BOD5 là 744.007 tấn/năm, Amoni là 38.626 tấn/năm, tổng Nitơ là 652.662 tấn/năm và tổng Photpho là 25.495 tấn/năm.
Trong giai đoạn 2021-2025, công tác khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường được thực hiện thông qua việc tăng cường công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình thoát nước, xử lý nước thải, môi trường nước mặt tại các lưu vực sông chính trên địa bàn thành phố đã và đang dần được kiểm soát mức độ gia tăng ô nhiễm. Tuy nhiên, vẫn còn một số đoạn sông tiếp tục bị ô nhiễm hữu cơ do tác động của chất thải từ các hoạt động dân sinh, công nghiệp và nông nghiệp.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chất lượng nguồn nước mặt trên địa bàn, TP. HCM kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải, ngăn chặn xu hướng gia tăng ô nhiễm và từng bước cải thiện, phục hồi chất lượng nước mặt sông, hồ nội thành trên địa bàn tỉnh, đáp ứng được các yêu cầu của Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thành phố triển khai đồng bộ giải pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước.
Trong giai đoạn 2026-2030 phấn đấu tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý tập trung đạt 80%; Tỷ lệ điểm quan trắc thuộc lưu vực sông Đồng Nai có chỉ số chất lượng nước (WQI) đạt mức trung bình trở lên đạt 85-90%; Tỷ lệ các cụm công nghiệp có chủ đầu tư có hệ thống xử lý nước thải tập trung vận hành đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đạt 100%;
Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đạt 100%; Tỷ lệ các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động, liên tục, truyền số liệu trực tiếp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường đạt 100%.
Để chủ động phòng ngừa và kiểm soát các nguồn thải, UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp, Ban Quản lý Khu công nghệ cao, Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan rà soát và không phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường cho dự án đầu tư mới có hoạt động xả nước thải trực tiếp vào môi trường nước mặt không còn khả năng chịu tải theo công bố.
Các đơn vị cần thực hiện tốt công tác hậu kiểm; tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, áp dụng cơ chế thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm; đẩy mạnh phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan thanh tra và lực lượng cảnh sát môi trường;
Theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở các cơ sở thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; đảm bảo 100% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở thuộc đối tượng lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục phải lắp đặt và truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường theo đúng quy định.
Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã, phường, đặc khu rà soát, giám sát các cơ sở, dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng quy mô phải có lộ trình nâng cấp hệ thống xử lý nước thải nhằm đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt theo Quy định phân vùng nguồn tiếp nhận thải trên địa bàn thành phố; Điều tra, lập danh sách các cơ sở có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; yêu cầu các cơ sở lập và triển khai thực hiện kế hoạch phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường, sự cố tràn dầu, sự cố tràn đổ chất thải...
Đẩy mạnh việc thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn; tăng cường đầu tư hệ thống thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn ở khu vực đô thị và khu/cụm/tuyến dân cư nông thôn để hạn chế và chấm dứt tình trạng xả rác thải vào sông, suối và các nguồn nước mặt khác; Tăng cường công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp.
Các nguồn thải sẽ được kiểm soát hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước.
Bên cạnh đó, các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường nước mặt được đẩy mạnh triển khai. Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan đầu tư phát triển các hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị theo quy hoạch đảm bảo đến năm 2030 tỉ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý tập trung đạt 80%;
Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã, phường, đặc khu quản lý tốt hành lang bảo vệ nguồn nước, khai thác và sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả; tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ chức năng nguồn nước, đặc biệt các nguồn nước có chức năng cấp nước sinh hoạt.
Nâng cao năng lực quan trắc, chia sẻ thông tin và cảnh báo ô nhiễm môi trường nước mặt: Tiếp tục duy trì mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt tại thành phố gồm 254 điểm quan trắc (trong đó: 84 điểm quan trắc chất lượng nước trên các tuyến sông và các chi lưu; 118 điểm quan trắc trên hệ thống kênh rạch; 36 điểm quan trắc tại các hồ chứa và 16 điểm quan trắc xung quanh các bãi chôn lấp và khu liên hợp xử lý chất thải rắn); cập nhật bổ sung, điều chỉnh trong trường hợp cần thiết;
Sở Nông nghiệp và Môi trường nâng cấp hệ thống nhận, truyền và quản lý dữ liệu quan trắc tự động hiện có, đồng bộ hóa với hạ tầng quan trắc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; tiến tới số hóa dữ liệu quan trắc và nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo, dự báo chất lượng các thành phần môi trường, trong đó có chất lượng môi trường nước mặt; Công khai thông tin về chất lượng môi trường nước mặt, chất lượng nước thải của các nguồn thải đến cộng đồng dân cư thông qua nền tảng ứng dụng điện thoại di động, bảng thông tin điện tử.
Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và các đơn vị liên quan tăng cường nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm với tổ chức trong nước và quốc tế, các chuyên gia quản lý, bảo vệ môi trường nước; qua đó nhanh chóng được tiếp cận và nhận chuyển giao các công nghệ mới, hiện đại trong tuần hoàn, tái sử dụng nước, giảm phát thải vào môi trường nước./.
Bùi Hòa