Toàn tỉnh Phú Thọ có 84/133 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), chiếm 63,2% số xã; 3/84 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, chiếm 3,6% số xã đạt chuẩn NTM; 525 khu dân cư đạt chuẩn NTM kiểu mẫu.
Hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, từng bước hiện đại. Đến nay, 100% các xã có đường giao thông được kiên cố hóa đến trung tâm xã, tỷ lệ đường giao thông nông thôn được kiên cố hóa đạt 81,5%; hệ thống công trình thủy lợi, điện được đầu tư nâng cấp, cải tạo phục vụ tốt nhu cầu sản xuất của người dân; cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục, văn hóa - thể thao dần được đầu tư đồng bộ; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn không ngừng được nâng lên.
Xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, lâu dài và có tính chất toàn diện, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã có sự chỉ đạo quyết liệt, cùng sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành và đồng thuận của Nhân dân, chương trình xây dựng NTM của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Bước sang giai đoạn 2026-2030, xây dựng NTM chuyển trọng tâm sang phát triển theo chiều sâu, đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và tính bền vững. Khi các tiêu chí được chuẩn hóa, chương trình không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện hạ tầng mà còn thúc đẩy chuyển đổi toàn diện về kinh tế, xã hội và môi trường; đây là một thách thức lớn đối với các địa phương trong thời gian tới.
Bảo vệ môi trường là tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới (Ảnh minh họa).
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả triển khai, UBND tỉnh vừa ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Trong đó, với tiêu chí môi trường và cảnh quan nông thôn, UBND tỉnh yêu cầu hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn (nếu có) trên địa bàn đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân loại, thu gom, xử lý đạt ≥80%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt chôn lấp trực tiếp ≤50% tổng lượng chất thải rắn phát sinh;
Tỷ lệ chất thải chăn nuôi, chất thải hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp được thu gom, xử lý, tái chế thành sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu, phân bón; Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làng nghề (nếu có) theo quy hoạch và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
Các địa phương có phương án và thực hiện phương án phù hợp về thoát nước, thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại các khu dân cư nông thôn trên địa bàn xã đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường; Cảnh quan, không gian xanh - sạch - đẹp, an toàn; có mô hình cải tạo, phục hồi cảnh quan, xử lý chất lượng nước mặt ao hồ, kênh mương trên địa bàn.
Với tiêu chí phát triển nông thôn, các xã phải có vùng nguyên liệu tập trung đối với cây trồng, vật nuôi chủ lực của xã được chứng nhận chất lượng, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm: Có ít nhất 30% diện tích hoặc sản lượng vùng nguyên liệu được chứng nhận chất lượng hợp lệ (VietGAP, hữu cơ, HACCP, ISO 22000, chứng nhận sản phẩm an toàn…);
Thúc đẩy liên kết chế biến và tiêu thụ ổn định theo chuỗi giá trị, được xác minh bằng hợp đồng, thỏa thuận hoặc biên bản ghi nhớ đã thực hiện trên thực tế; trong đó, sản phẩm từ vùng nguyên liệu được tổ chức tiêu thụ thông qua HTX doanh nghiệp hoặc cơ sở sơ chế, chế biến gắn với thị trường đầu ra, hoặc có cơ sở sơ chế, chế biến tham gia chuỗi, có hoạt động thu mua, sơ chế hoặc chế biến sản phẩm từ vùng nguyên liệu và gắn với tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
Thời gian liên kết đảm bảo ổn định là: tối thiểu 05 năm trở lên đối với sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ nuôi, trồng, khai thác từ 01 năm trở lên; tối thiểu 03 năm đối với sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ nuôi, trồng, khai thác dưới 01 năm;
Có hồ sơ quản lý vùng nguyên liệu do UBND xã lưu giữ, cập nhật dữ liệu số (bản đồ vùng, danh sách hộ, chứng nhận, hợp đồng) trên hệ thống quản lý của ngành nông nghiệp và môi trường hoặc theo hướng dẫn của cơ quan cấp tỉnh. Có mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc mô hình kinh tế xanh hoặc mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả; Có kế hoạch và thực hiện hiệu quả kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP gắn với đặc trưng, thế mạnh của địa phương...
UBND tỉnh giao các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh được giao phụ trách tiêu chí, nội dung tiêu chí, căn cứ hướng dẫn của bộ, cơ quan trung ương và điều kiện thực tế của địa phương để hướng dẫn chuyên môn; theo dõi, đánh giá, thẩm định các tiêu chí, nội dung tiêu chí thuộc lĩnh vực được phân công. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, phối hợp với UBND các xã trong quá trình triển khai thực hiện.
Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thực hiện bộ tiêu chí xã nông thôn mới, tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại; phối hợp với các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Định kỳ 6 tháng và hằng năm tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh về kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn tỉnh.
Bên cạnh đó, tiếp nhận hồ sơ, tham mưu tổ chức thẩm định, trình công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại theo quy định. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh, phối hợp với các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan và các địa phương nghiên cứu, rà soát, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh.
Đối với UBND các xã căn cứ bộ tiêu chí xã nông thôn mới, tiêu chí xã nông thôn mới hiện đại và hướng dẫn của các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan, chủ động rà soát đánh giá mức độ đạt chuẩn các tiêu chí, nội dung tiêu chí; tổ chức triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại trên địa bàn, đảm bảo thực chất, hiệu quả./.
Hồng Ngát