Tỉnh Sơn La có hệ thống sông, suối và các lòng hồ thủy điện trải rộng trên địa bàn. Đây không chỉ là nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất điện mà còn mở ra dư địa lớn để phát triển thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lồng. Việc đưa mặt nước lòng hồ vào khai thác hợp lý giúp nâng cao giá trị tài nguyên, đa dạng hóa sinh kế và tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân.
Khai thác tài nguyên nước mặt theo hướng bền vững sẽ giúp Sơn La vừa phát huy lợi thế tự nhiên, vừa bảo đảm cân bằng sinh thái, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế lâu dài. Theo thống kê, tỉnh Sơn La có gần 4.000 km² mặt nước hồ thủy điện, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản và các sinh kế gắn với vùng lòng hồ.
Bên cạnh đó, Sơn La là địa phương có tiềm năng lớn về tài nguyên nước với 2 con sông lớn là sông Đà, dài 280 km với 32 phụ lưu; sông Mã dài 90 km với 17 phụ lưu, cùng 35 suối lớn. Mật độ sông suối trung bình từ 0,5-1,8 km/km2. Theo ước tính, tổng lượng nước mặt hàng năm của Sơn La đạt khoảng 19 tỷ m³, chủ yếu từ nguồn nước mưa được tích trữ trong hệ thống sông Đà và sông Mã. Trữ lượng nước dưới đất ước tính trên 3 triệu m³/ngày đêm; ngoài ra, còn nhiều mạch nước dưới đất chưa được phát hiện và khai thác.
Phát huy lợi thế này, người dân các địa phương đang mở rộng nuôi cá lồng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, từng bước hình thành các mô hình liên kết từ nuôi trồng đến tiêu thụ. Đơn cử tại xã Quỳnh Nhai, trên 90 ha mặt nước lòng hồ thủy điện Sơn La là những khu lồng cá nối tiếp nhau. Nhiều hộ dân từng gắn bó với nghề đánh bắt tự nhiên nay chuyển sang nuôi cá lồng, từng bước ổn định sinh kế.
Toàn xã hiện có khoảng 2.800 lồng nuôi và hơn 30 HTX thủy sản. Nghề nuôi cá lồng trở thành một trong những hướng phát triển kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho người dân vùng lòng hồ. Quy mô nuôi ngày càng mở rộng, yêu cầu tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và liên kết tiêu thụ cũng được đặt ra rõ hơn. Từ việc lựa chọn con giống, chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh, đến xây dựng nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, các hộ nuôi cần có sự phối hợp để nâng cao hiệu quả và giá trị sản phẩm.
Sơn La có tiềm năng lớn về tài nguyên nước.
Theo lãnh đạo UBND xã Quỳnh Nhai, sau quá trình tái định cư phục vụ xây dựng thủy điện Sơn La, cùng với ổn định đời sống, người dân vùng lòng hồ từng bước khai thác mặt nước để phát triển nuôi trồng thủy sản. Từ những lồng cá đầu tiên được hỗ trợ xây dựng, đến nay, nghề nuôi cá lồng đã phát triển, trở thành một trong những hướng sản xuất mang lại thu nhập cho người dân, góp phần khai thác hiệu quả vùng lòng hồ.
Xã đang khuyến khích người dân phát triển nuôi cá lồng theo hướng tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và liên kết tiêu thụ; tạo điều kiện để các hộ tiếp cận con giống, kỹ thuật chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh, xây dựng nhãn mác, bao bì và truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm. Cùng với Quỳnh Nhai, tại xã Mường La, nuôi cá lồng cũng đang trở thành hướng sinh kế quan trọng của người dân vùng lòng hồ. Riêng bản Mường Trai có 86 trong tổng số 271 hộ phát triển nuôi cá lồng, thu nhập ổn định từ 150-200 triệu đồng/hộ/năm. Nghề nuôi cá lồng góp phần tạo việc làm, nâng thu nhập và giúp người dân khai thác hiệu quả mặt nước.
Nghề nuôi cá lồng đã phát triển tại các địa phương có hồ thủy điện. Toàn tỉnh hiện có 2.907 ha nuôi trồng thủy sản, 7.091 lồng nuôi cá; hình thành 15 chuỗi cung ứng thủy sản an toàn với trên 2.000 lồng nuôi.
Nhiều sản phẩm cá sông Đà được chứng nhận OCOP, từng bước xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Nghề nuôi cá lồng đang từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất, gắn với xây dựng thương hiệu và liên kết tiêu thụ. Cùng với mở rộng sản xuất, bảo vệ môi trường nước và nguồn lợi thủy sản đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với nghề nuôi cá lồng.
Chất lượng nước tác động trực tiếp đến sức khỏe đàn cá, năng suất và hiệu quả của mỗi lồng nuôi. Vì vậy, tại các vùng lòng hồ, người dân từng bước gắn phát triển sinh kế với giữ gìn nguồn nước.
Bảo vệ nguồn lợi thủy sản được gắn với hoạt động sản xuất, các hộ nuôi cá lồng được chính quyền vận động không sử dụng xung điện, chất nổ và các công cụ khai thác tận diệt; chủ động phát hiện, nhắc nhở và ngăn chặn những hành vi đánh bắt trái phép.
Cùng với đó tại xã Mường La, cách làm này được cụ thể hóa thông qua mô hình đồng quản lý trên lòng hồ. Người dân cùng tham gia kiểm tra, bảo vệ vùng nước, qua đó gắn trách nhiệm của cộng đồng với chính không gian sản xuất đang mang lại sinh kế cho mình. Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản và Du lịch Mường La hiện duy trì khoảng 200 lồng cá, chủ yếu là cá tầm, cá trạch và các loài cá đặc sản. Các thành viên chú trọng vệ sinh lồng bè, quản lý thức ăn, theo dõi môi trường nước và phòng bệnh cho cá. Đại diện Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản và Du lịch Mường La, cho biết: Trước đây, người nuôi lo nhất là nguồn nước ô nhiễm và bị đánh bắt trộm. Từ khi thành lập tổ đồng quản lý, bà con trong bản cùng nhau luân phiên kiểm tra, nhắc nhở nhau giữ gìn môi trường nước.
Mở rộng nuôi cá lồng tại các vùng lòng hồ, áp dụng tiến bộ kỹ thuật góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương. (Ảnh: SL).
Đồng quản lý giúp bà con yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất. Vùng nước lòng hồ là nguồn sống của nhiều gia đình nên bà con có trách nhiệm hơn trong giữ gìn nguồn nước để cá phát triển. Khi sinh kế gắn với chất lượng nguồn nước, người dân có thêm trách nhiệm trong bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản.
Đây cũng là cơ sở để các HTX xây dựng chuỗi sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc, từng bước nâng giá trị sản phẩm. Theo lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số, cho biết, để nghề nuôi cá lồng phát triển ổn định, người dân cần lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng lòng hồ, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, kiểm soát mật độ, thức ăn và môi trường nước.
Trung tâm tiếp tục chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình phù hợp; phối hợp với địa phương, doanh nghiệp hỗ trợ người dân nâng cao chất lượng sản phẩm, kết nối tiêu thụ, từng bước nâng hiệu quả nghề nuôi.
Khai thác hiệu quả tài nguyên nước mặt đang mở ra hướng phát triển nhiều tiềm năng cho Sơn La, nhất là tại các khu vực lòng hồ thủy điện. Trong thời gian tới, Sơn La tiếp tục rà soát, quy hoạch không gian khai thác mặt nước phù hợp từng lòng hồ; đồng thời tăng cường quản lý môi trường, kiểm soát chất lượng nguồn nước và hoạt động nuôi trồng. Việc kết hợp hài hòa giữa khai thác và bảo vệ sẽ quyết định hiệu quả lâu dài của nguồn tài nguyên này. Từ đó trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế xanh và sinh kế bền vững tại Sơn La.
Minh Ngọc
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/son-la-khai-thac-hieu-qua-loi-the-nuoc-mat-tao-viec-lam-on-dinh-cho-cac-ho-dan.html