Sau sáp nhập, tỉnh Ninh Bình có không gian phát triển mới về biển với 89,45km bờ biển gồm 16 xã ven biển, dân số vùng khoảng gần 600.000 người. Khu vực có hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, đầm lầy, 05 cửa sông lớn, nguồn lợi thủy sản phong phú, tiềm năng phát triến nuôi trồng thủy sản, làm muối, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo và dịch vụ hậu cần nghề cá.
Tận dụng chiều dài gần 90 km bờ biển, nhiều cửa sông lớn cùng vùng triều, đầm phá rộng, Ninh Bình sở hữu một không gian kinh tế biển đa dạng, giàu tiềm năng để phát triển đa ngành, đa chuỗi. Thời gian qua, nhiều địa phương ven biển đã chủ động mở hướng đi mới trong nuôi trồng thủy hải sản công nghệ cao, chế biến sâu, phát triển thương hiệu OCOP, đầu tư hạ tầng cảng cá, logistics và đẩy mạnh du lịch trải nghiệm biển, hướng đến mô hình kinh tế biển hiện đại, bền vững.
Bên cạnh lợi thế của ngành nuôi trồng thủy, hải sản, Ninh Bình hiện có hơn 1.800 tàu thuyền thường xuyên ra khơi khai thác, vì vậy tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành chế biến thủy, hải sản. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, phát triển kinh tế biển tiếp tục được tỉnh quan tâm và xác định: Đẩy mạnh khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản với quy mô lớn, công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy, hải sản. Tổ chức hợp lý các vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm…
Tỉnh Ninh Bình đẩy mạnh khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản với quy mô lớn, công nghệ cao.
Bám sát quan điểm chỉ đạo, mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đặt ra, các cấp, các ngành và đặc biệt là những địa phương có biển đang khẩn trương cụ thể hóa bằng những giải pháp đồng bộ. Cùng với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, địa phương này đặc biệt coi trọng nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản.
Theo đó, tỉnh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm trong các hoạt động thủy sản; phòng ngừa và giải quyết các sự cố môi trường; bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản và môi trường sống, góp phần ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học; nâng cao năng lực thích ứng biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; xây dựng và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong hoạt động thủy sản để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ngành thủy sản của tỉnh.
Trong đó, tỉnh chủ động phòng ngừa, quản lý, kiểm soát nguồn ô nhiễm, chất thải từ các hoạt động thủy sản; quan trắc môi trường phục vụ quản lý ngành thủy sản. Thực hiện điều tra, đánh giá lượng thải từ các hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh (hoạt động khai thác thủy sản, vùng nuôi trồng thủy sản, cơ sở chế biến thủy sản).
Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh đẩy mạnh quan trắc cảnh báo, giám sát môi trường trong nuôi trồng thủy sản nhằm chủ động phòng, chống dịch bệnh, kịp thời cảnh báo và có giải pháp chủ động ứng phó với biến động tiêu cực của môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý sản xuất của ngành Nông nghiệp. Triển khai hoạt động quan trắc các yếu tố môi trường vùng nuôi tập trung các đối tượng nuôi chính, có giá trị kinh tế cao của tỉnh (tôm nước lợ, ngao, cá nước ngọt).
Cụ thể như sau: Nguồn nước cấp tôm nước lợ: Điểm quan trắc: Thực hiện quan trắc 12 điểm tại các cửa sông, đầu cống cung cấp nước cho vùng nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh. Thông số và tần suất quan trắc: Độ mặn, pH, oxy hòa tan (DO), Ammonia tổng cộng (NH4+-N), Nitrit (NO2--N), Nitrat (NO3--N), Phosphat (PO43--P), Hydrosunfua (H2S), độ kiềm (CaCO3), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Vibrio tổng số (Vibrio sp), tổng Coliform quan trắc với tần suất 02 - 04 lần/tháng. Thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng (Cd, Hg, Pb, As) quan trắc với tần suất 03 lần/năm. Thời gian quan trắc, giám sát: Từ tháng 3 đến tháng 12 hằng năm.
Giám sát ao đại diện nuôi tôm nước lợ: Điểm quan trắc: Thực hiện quan trắc môi trường nước trong ao nuôi đại diện các vùng nuôi tôm nước lợ tập trung tại 09 điểm thuộc các xã, phường có hoạt động nuôi tôm nước lợ. Thông số và tần suất quan trắc: Độ mặn, pH, oxy hòa tan (DO), Ammonia tổng cộng (NH4+-N), Nitrit (NO2--N), Nitrat (NO3--N), Phosphat (PO43--P), Hydrosunfua (H2S), độ kiềm (CaCO3), nhu cầu oxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Vibrio tổng số (Vibrio sp), tảo độc, tổng Coliform quan trắc với tần suất 02 - 04 tháng/lần; Thời gian quan trắc, giám sát: Từ tháng 3 đến tháng 12 hằng năm.
Vùng nuôi ngao: Điểm quan trắc: Thực hiện quan trắc môi trường nước tại 04 điểm thuộc các vùng nuôi ngao trọng điểm của tỉnh. Thông số và tần suất quan trắc nước nuôi ngao: pH, độ mặn, DO, NH4+-N, NO2--N, NO3--N, PO43--P, H2S, TSS quan trắc với tần suất 02 - 04 lần/tháng. Thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng Cd, Hg, Pb, As quan trắc với tần suất 03 lần/năm. Thời gian quan trắc, giám sát: Từ tháng 3 đến tháng 12 hằng năm.
Nguồn nước cấp vùng nuôi cá nước ngọt: Điểm quan trắc: Thực hiện quan trắc môi trường nước tại 05 điểm thuộc các khu vực cấp nước cho các vùng nuôi cá nước ngọt trọng điểm trên địa bàn các xã, phường của tỉnh. Thông số và tần suất quan trắc: pH, DO, NH4+-N, NO2--N, NO3--N, PO43--P, H2S, TSS, tảo độc, Coliform quan trắc với tần suất 02 - 04 lần/tháng. Thuốc bảo vệ thực vật và kim loại nặng Cd, Hg, Pb, As quan trắc với tần suất 03 lần/năm. Thời gian quan trắc, giám sát: Từ tháng 3 đến tháng 12 hằng năm...
Bên cạnh đó, Ninh Bình nâng cao năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ sự cố môi trường trong lĩnh vực thủy sản trên địa bàn tỉnh; Phối hợp các Bộ, ngành Trung ương triển khai các hoạt động nâng cao năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ sự cố môi trường trong lĩnh vực thủy sản trên địa bàn tỉnh. Tham gia ứng phó sự cố môi trường thuộc phạm vi quản lý theo phân công về ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
Quan trắc, kiểm soát môi trường từ hoạt động nuôi trồng thủy sản là nhiệm vụ quan trọng được tỉnh đẩy mạnh triển khai.
Đáng chú ý, địa phương này thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong hoạt động thủy sản: Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên thủy sản, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các hoạt động thủy sản.
Từng bước chuyển đổi mô hình thủy sản theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh; phát triển sản xuất thủy sản hữu cơ, công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Phối hợp nghiên cứu, xây dựng và từng bước áp dụng mô hình doanh nghiệp/cơ sở/tổ hợp tác nuôi trồng thủy sản, chế biến, khai thác, kinh doanh thủy sản theo hướng sản xuất xanh, sử dụng nguyên liệu thân thiện với môi trường.
Nâng cao nhận thức, tư duy về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản đối với các bên có liên quan: Phổ biến, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về quan điểm coi “Môi trường là điều kiện, nền tảng, là yếu tố tiên quyết cho phát triển kinh tế, xã hội bền vững” theo Kết luận số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, phổ biến nội dung đề án, các chủ trương, quy định pháp luật, kế hoạch bảo vệ môi trường lĩnh vực thuỷ sản đến công chức, viên chức, người lao động thủy sản của tỉnh, các tổ chức/cá nhân có hoạt động liên quan đến thủy sản tại địa phương. Nâng cao nhận thức, hiểu biết về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khuyến khích các doanh nghiệp, hộ sản xuất/kinh doanh thủy sản thực hiện các tiêu chuẩn, cam kết tự nguyện về môi trường; ý thức tuân thủ pháp luật, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội về môi trường của các doanh nghiệp sản xuất thủy sản, cộng đồng ngư dân.
Phối hợp nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ, tiến bộ kỹ thuật trong các hoạt động thủy sản của tỉnh theo hướng công nghệ tiên tiến hiện đại, thân thiện với môi trường, giảm thiểu chất thải theo kinh tế tuần hoàn. Xã hội hóa, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong xử lý chất thải từ các hoạt động thủy sản; xã hội hóa, nâng cao năng lực hệ thống các tổ chức đánh giá sự phù hợp lĩnh vực môi trường.../.
Hồng Vân