Quảng Ninh được đánh giá là một trong những địa phương sở hữu lợi thế lớn để phát triển nuôi biển. Hiện nay thành phố đã tích hợp vào quy hoạch tỉnh trên 50.000ha mặt nước biển dành để nuôi biển, trong đó trên 30.000ha trong 6 hải lý, còn lại gần 20.000ha ngoài 6 hải lý. Diện tích này dành để thu hút đầu tư, phát triển các vùng nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao.
Từ đầu năm 2026 đến nay, thành phố đang từng bước hiện thực hoá phương án thí điểm thành lập cụm công nghiệp nuôi trồng thủy sản trên biển. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động tham mưu, xây dựng Đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tập trung ở khu vực vùng lộng, vùng khơi thuộc địa bàn đặc khu Cô Tô và Vân Đồn với mục tiêu hình thành từ 500-1.000ha nuôi trồng thủy sản trên biển theo quy mô công nghiệp.
Tại đặc khu Vân Đồn, HTX Thủy sản Thắng Lợi đang từng bước thay đổi phương thức nuôi, từ hệ thống lồng truyền thống sang lồng HDPE. Đây được xem là hướng đầu tư phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng chống chịu trước điều kiện thời tiết ngày càng bất thường. Theo đại diện HTX, năm nay HTX đưa vào nuôi thử nghiệm 4 lồng HDPE với tổng diện tích 160 m2. Sau hơn 4 tháng nuôi, cá phát triển tương đối đồng đều, trọng lượng đạt khoảng 0,5-0,6 kg/con. So với lồng truyền thống, lồng HDPE có độ bền cao hơn, khả năng chịu sóng gió tốt hơn và hạn chế sinh vật bám vào vật liệu.
HTX cũng đầu tư thiết bị theo dõi môi trường, chủ động kiểm tra độ mặn, pH và các yếu tố thời tiết để điều chỉnh lượng thức ăn, phòng ngừa dịch bệnh. Dự kiến sau khoảng 8 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân 0,8-0,9 kg/con. Với 4 lồng thử nghiệm, sản lượng dự kiến khoảng 16 tấn, giá bán hiện khoảng 130.000-140.000 đồng/kg.
Tại Quảng Ninh, yêu cầu chuyển đổi vật liệu sử dụng trong nuôi trồng thủy sản cũng được đặt ra từ sớm. Địa phương đã ban hành quy định, quy chuẩn về vật liệu sử dụng làm phao nổi trong nuôi trồng thủy sản lợ, mặn, theo hướng thay thế các vật liệu không còn phù hợp. Đồng thời đẩy mạnh thay thế phao xốp bằng vật liệu đạt quy chuẩn, đồng thời khuyến khích sử dụng lồng HDPE phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13997:2024.
Cùng với vật liệu, ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tăng cường quan trắc môi trường, giám sát dịch bệnh và từng bước số hóa dữ liệu vùng nuôi. Các thông số như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ mặn và một số chỉ tiêu môi trường được theo dõi nhằm giúp người nuôi chủ động điều chỉnh kỹ thuật sản xuất.
Lồng nuôi HDPE được đưa vào khai thác nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất (Ảnh minh họa: NQ).
Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản của Quảng Ninh đạt trên 181.300 tấn, tăng 9,2% so với năm 2024. Riêng sản lượng nuôi biển đạt trên 62.000 tấn, chiếm khoảng 60,8% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản. Đây là cơ sở để lĩnh vực nuôi biển tiếp tục thu hút nguồn lực đầu tư trong thời gian tới.
Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tập trung công nghiệp, hiện đại được UBND thành phố phê duyệt xác định 5 vùng nuôi biển trọng điểm tại Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vân Đồn, Cô Tô và vùng biển ngoài 6 hải lý thuộc đặc khu Cô Tô, với tổng diện tích khoảng 93.600 ha. Mục tiêu đến năm 2030 đưa vào khai thác khoảng 29.000 ha, sản lượng khoảng 200.000 tấn, giá trị sản xuất khoảng 12.800 tỷ đồng.
Đến năm 2045, thành phố mở rộng và hiện đại hóa đồng bộ các vùng nuôi, đưa vào khai thác khoảng 58.000ha vùng nuôi biển tập trung, năng lực cung ứng con giống tại chỗ đạt khoảng 95%; sản lượng nuôi biển đạt khoảng 380.000 tấn, giá trị sản xuất đạt khoảng 28.600 tỷ đồng (giá hiện hành) và khoảng 19.600 tỷ đồng (giá so sánh 2010). Mục tiêu đặt ra là xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm nuôi biển thâm canh, công nghiệp, hiện đại hàng đầu cả nước và đi đầu trong phát triển kinh tế biển xanh.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố tập trung phát triển hệ thống sản xuất giống tại chỗ, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hậu cần dùng chung, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quản lý môi trường. Vân Đồn được định hướng phát triển thành trung tâm sản xuất giống nhuyễn thể; khu vực Đầm Hà tập trung sản xuất giống cá biển công nghệ cao; các cơ sở ương dưỡng giống vệ tinh được bố trí tại Móng Cái, Tiên Yên và Cô Tô.
Tại các vùng nuôi, hệ thống phao mốc giới, điểm neo đậu lồng bè, trạm quan trắc môi trường tự động, thông tin liên lạc và thu gom chất thải sẽ từng bước được đầu tư đồng bộ. Các cơ sở được định hướng chuyển từ bè gỗ, phao xốp sang vật liệu HDPE; áp dụng công nghệ nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và quản lý sản phẩm theo chuỗi.
Trong bối cảnh nguồn lợi tự nhiên đang chịu sức ép ngày càng lớn, định hướng giảm khai thác, đẩy mạnh nuôi biển, nhất là nuôi biển công nghệ cao theo chuỗi giá trị đang mở ra hướng phát triển mới. Đối với thủy sản, định hướng rất rõ là giảm khai thác, tăng nuôi trồng. Đây là xu hướng phù hợp với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi và phục hồi hệ sinh thái biển.
Thủy sản hiện chiếm khoảng 27-28% giá trị toàn ngành nông nghiệp. Năm 2025, sản lượng thủy sản đạt 9,95 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD. Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng đạt 6,95 triệu tấn, trong đó khai thác khoảng 2,7 triệu tấn, chỉ tăng 0,7%, còn nuôi trồng đạt 4,2 triệu tấn, tăng 6%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Những con số này cho thấy dư địa tăng trưởng của thủy sản trong thời gian tới nằm nhiều ở nuôi trồng, trong đó nuôi biển là một trong những điểm nhấn quan trọng.
Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cũng đặt mục tiêu giá trị nuôi biển tăng bình quân 8%/năm. Việt Nam có lợi thế rất lớn với hơn 3.260 km bờ biển và hơn 1 triệu km2 mặt nước biển. Muốn phát huy lợi thế này, phải có những tập đoàn, doanh nghiệp lớn đầu tư nuôi biển xa bờ, nuôi công nghệ cao, theo chuỗi và theo từng đối tượng nuôi. Khi doanh nghiệp lớn tham gia sẽ tạo ra cả hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ: sản xuất lưới, phao, thiết bị, tàu cho ăn, tàu thu hoạch, sơ chế, chế biến./.
Hồng Ánh