Tây Ninh là địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn, với nhiều vùng sản xuất tập trung các loại cây trồng chủ lực. Quy mô sản xuất nông nghiệp rộng cùng nhu cầu phòng trừ sâu bệnh khiến việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trở thành một trong những giải pháp phổ biến của người dân.
Tuy nhiên, đi cùng với đó là lượng lớn bao gói thuốc bảo vệ thực vật phát sinh sau mỗi vụ sản xuất, đặt ra không ít thách thức đối với công tác bảo vệ môi trường và quản lý chất thải nông nghiệp. Thực tế này đặt ra yêu cầu Tây Ninh cần tiếp tục siết chặt quản lý việc sử dụng và thu gom bao gói thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời nâng cao nhận thức của người sản xuất. Việc bố trí các điểm thu gom ngay tại vùng canh tác, hướng dẫn nông dân bỏ bao bì đúng nơi quy định và tổ chức vận chuyển, xử lý theo quy trình sẽ giúp hạn chế nguy cơ ô nhiễm.
Thực hiện Kế hoạch số 1248/KH-UBND của UBND tỉnh về thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sau sử dụng, thời gian qua, các xã, phường trên địa bàn tỉnh bố trí nhiều điểm, bể thu gom tại khu vực sản xuất nông nghiệp.
Việc này bước đầu góp phần hạn chế tình trạng người dân vứt bao bì thuốc BVTV trực tiếp trên đồng ruộng, kênh, mương, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, theo ngành Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh, công tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý loại chất thải này vẫn còn nhiều hạn chế.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin, tại một số nơi, việc bố trí điểm, bể thu gom chưa được khảo sát đầy đủ về vị trí, phạm vi phục vụ, mật độ sản xuất, tuyến đường vận chuyển và khả năng quản lý. Có điểm đặt quá xa khu vực sản xuất khiến người dân ít sử dụng. Ngược lại, một số điểm nằm gần đường dân sinh, khu dân cư hoặc vị trí thuận tiện đi lại nhưng bị sử dụng như nơi bỏ rác công cộng. Tại một số điểm thu gom, biển hướng dẫn chưa rõ ràng, bể chứa không có nắp đậy hoặc mái che, đồng thời chưa xác định cụ thể tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi và vệ sinh thường xuyên.
Địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân trong việc thu gom, bỏ vỏ, bao thuốc BVTV đúng nơi quy định.
Đáng chú ý, bao bì thuốc BVTV còn bị bỏ lẫn với nhiều loại chất thải khác như rác sinh hoạt, bao bì phân bón, chai nhựa, túi nylon, hộp xốp, chai lọ thuốc thú y, cành cây, cỏ, đất, bùn... Việc này gây khó khăn cho phân loại, kiểm đếm, đóng gói và bàn giao chất thải cho đơn vị có chức năng xử lý.
Khối lượng chất thải phải thu gom, vận chuyển, xử lý vì vậy cũng tăng lên, kéo theo chi phí phát sinh. Trong một số trường hợp, chất thải chưa được phân loại hoặc không đúng với nội dung hợp đồng khiến đơn vị xử lý không thể tiếp nhận ngay, làm ảnh hưởng đến tiến độ thu gom và nguy cơ khiến chất thải tiếp tục tồn lưu tại địa phương. Công tác kiểm tra, theo dõi và tổ chức thu gom tại một số nơi cũng chưa được thực hiện thường xuyên mà chủ yếu tiến hành theo từng đợt hoặc khi bể chứa đã đầy.
Do lượng bao bì phát sinh tại từng điểm thường nhỏ, phân tán theo mùa vụ, trong khi chi phí vận chuyển và xử lý tương đối cao, một số địa phương có xu hướng chờ đủ khối lượng hoặc chờ bố trí kinh phí mới thực hiện chuyển giao. Từ đó dẫn đến tình trạng bao bì và các loại chất thải bị bỏ lẫn tồn lưu trong thời gian dài, bể chứa quá tải, chất thải tràn ra ngoài hoặc tiếp tục bị vứt bỏ tại khu vực xung quanh. Bên cạnh đó, một số bể chứa được đầu tư từ nhiều năm trước đến nay đã xuống cấp, nứt, vỡ, mất nắp hoặc hư hỏng biển báo.
Tại những khu vực trũng thấp, thường xuyên ngập nước, nước mưa có thể chảy vào bể, làm phát tán lượng hóa chất còn sót lại ra đất, kênh, mương và nguồn nước xung quanh. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, những tồn tại trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, tại một số nơi chưa xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm quản lý từng điểm thu gom; công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân về loại chất thải được phép bỏ vào bể chưa đầy đủ; chưa xây dựng lịch thu gom phù hợp với mùa vụ và khối lượng phát sinh.
Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý còn phụ thuộc vào ngân sách địa phương, chưa ổn định. Trong khi đó, sự tham gia của các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất, phân phối thuốc BVTV, hợp tác xã và các tổ chức nông dân còn hạn chế. Để khắc phục, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các xã, phường rà soát, đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của các điểm, bể thu gom hiện có.
Những điểm hoạt động hiệu quả, được quản lý và chuyển giao xử lý thường xuyên tiếp tục được duy trì. Những điểm không còn phù hợp hoặc hoạt động kém hiệu quả cần được sửa chữa, di dời hoặc chấm dứt hoạt động. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị từng bước nghiên cứu, triển khai mô hình tiếp nhận bao bì thuốc BVTV sau sử dụng tại các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc những địa điểm có tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý.
Tây Ninh hướng tới mục tiêu đến năm 2030 thu gom vỏ, bao gói thuốc BVTV đạt 100%. (Ảnh: BN).
Việc hình thành các đầu mối tiếp nhận ổn định, thuận tiện sẽ giúp người dân dễ dàng tập kết bao bì sau sử dụng đến đúng nơi quy định, đồng thời hạn chế tình trạng bỏ lẫn với rác thải khác. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả thống kê, kiểm tra, thu gom và xử lý. Trong những tháng còn lại của năm 2026, các xã, phường được yêu cầu chủ động rà soát khối lượng bao bì thuốc BVTV phát sinh trên địa bàn, đồng thời phối hợp các địa phương lân cận lựa chọn đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại.
Trên cơ sở đó, các địa phương phối hợp xây dựng phương án, tuyến và lịch trình thu gom phù hợp trên địa bàn nhiều xã, phường nhằm tối ưu hóa hoạt động, giảm chi phí vận chuyển, xử lý và nâng cao hiệu quả. Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp nghiên cứu, huy động và lồng ghép các nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ địa phương thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý bao bì thuốc BVTV sau sử dụng. Trong đó có nguồn kinh phí hỗ trợ xử lý chất thải theo Nghị định số 110/2026/NĐ-CP khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Trong giai đoạn tiếp theo, tỉnh khuyến khích nông dân chuyển đổi sang sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học để bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái. Đồng thời địa phương đặt mục tiêu đến năm 2026 thu gom đạt 80% tổng lượng phát sinh và đến năm 2030 đạt 100%, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Riêng các xã điểm trong chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 phấn đấu thu gom, vận chuyển và xử lý toàn bộ lượng bao gói thuốc BVTV sau sử dụng theo đúng quy định.
Với diện tích sản xuất nông nghiệp lớn, nhu cầu sử dụng thuốc BVTV tại Tây Ninh còn cao, kéo theo lượng bao gói phát sinh đáng kể. Vì vậy, việc đẩy mạnh rà soát, tăng cường thu gom, xử lý đúng quy định, giảm sử dụng hóa chất và nâng cao ý thức nông dân là yêu cầu cấp thiết để nông nghiệp Tây Ninh phát triển bền vững, hiệu quả trong giai đoạn tới.
Ngọc Mỹ