Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên

30/07/2026 13:33

MTNN Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030 được triển khai trên toàn quốc nhằm đánh giá đầy đủ hiện trạng, xu hướng biến động của các hệ sinh thái và loài sinh vật; đồng thời tạo nền tảng dữ liệu thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo vệ thiên nhiên.

Những năm qua, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Kunming-Montreal. Trong đó, quan điểm xuyên suốt là bảo tồn thiên nhiên phải trở thành nền tảng cho phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Đến nay, cả nước đã hình thành mạng lưới gồm 180 khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn và dưới nước, với tổng diện tích hơn 2,67 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục được duy trì ổn định trên 42%; nhiều hệ sinh thái quan trọng như: rừng ngập mặn, đất ngập nước nội địa, rạn san hô… đang từng bước được phục hồi thông qua các chương trình phục hồi hệ sinh thái và các giải pháp dựa vào thiên nhiên.

Cả nước hiện có 180 khu bảo tồn thiên nhiên với giá trị đa dạng sinh học phong phú, quý giá. 

Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản luôn có tăng trưởng cao qua các năm, năm 2025 đạt trên 18,3 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu thế giới.

Hệ sinh thái biển và ven biển đóng góp khoảng 47-48% GDP quốc gia nếu tính cả các ngành kinh tế liên quan như thủy sản, du lịch, vận tải biển. Riêng ngành thủy sản mang lại kim ngạch xuất khẩu khoảng 8-11 tỷ USD mỗi năm. Điều đó cho thấy, đa dạng sinh học không chỉ là câu chuyện bảo tồn, mà còn gắn chặt với phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh thái quốc gia. 

Việt Nam cũng tiếp tục mở rộng và nâng cao vị thế của các danh hiệu quốc tế về bảo tồn thiên nhiên, với nhiều khu Ramsar, Khu dự trữ sinh quyển thế giới và Vườn di sản ASEAN được công nhận. Công tác bảo tồn loài hoang dã nguy cấp tiếp tục được tăng cường thông qua các chương trình cứu hộ, nhân nuôi bảo tồn, tái thả về tự nhiên, kiểm soát buôn bán trái phép động vật hoang dã và phục hồi sinh cảnh.  

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục là một trong những cơ chế tài chính bền vững, huy động hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho bảo vệ và phát triển rừng. Nhiều mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh kế bền vững và bảo tồn dựa vào cộng đồng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái.   

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiến hành điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên. 

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhằm cụ thể hóa và tổ chức hiệu quả Quyết định số 2067/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050", Bộ triển khai “Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030”.

Việc thực hiện điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học phải đảm bảo đầy đủ các chỉ tiêu, nội dung, phương pháp theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, pháp luật về lâm nghiệp, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các pháp luật khác có liên quan. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và các công nghệ tiên tiến trong quá trình thực hiện điều tra, kiểm kê, quan trắc và xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học. 

Bộ tiến hành điều tra, kiểm kê, quan trắc hệ sinh thái tự nhiên, gồm các chỉ tiêu về diện tích, chất lượng đối với hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển; Điều tra, kiểm kê, quan trắc các loài sinh vật trong khu bảo tồn thiên nhiên: Điều tra, kiểm kê, quan trắc các chỉ tiêu về số lượng cá thể, số lượng quần thể, thành phần loài, tần suất xuất hiện của các loài động vật, động vật đặc hữu, động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, động vật bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả; 

Điều tra, kiểm kê, quan trắc các chỉ tiêu về diện tích, thành phần và xu thế biến động các loài thực vật, thực vật đặc hữu, thực vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, thực vật bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả.

Qua đó, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên: Cơ sở dữ liệu dạng số được xây dựng đồng bộ, thống nhất bao gồm các chỉ tiêu về diện tích, chất lượng hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái thảm cỏ biển và các chỉ tiêu về số lượng, thành phần loài động vật, thực vật trong các hệ sinh thái. 

Cơ sở dữ liệu bản đồ được biên tập trên nền hệ tọa độ VN2000 về diện tích các hệ sinh thái, phân bố thành phần loài động vật, thực vật và các vị trí xuất hiện của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài bị đe dọa có trong Sách đỏ Việt Nam.    

Một trong những nhiệm vụ quan trọng được nhấn mạnh triển khai là nâng cao năng lực điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học: Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên trong nghiên cứu khoa học, chuyên môn về điều tra đa dạng sinh học, phân loại học các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm, các loài trong Sách đỏ Việt Nam; nâng cao năng lực về thu thập thông tin, khai thác và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học.

Theo kế hoạch, trong năm 2026, các đơn vị chuyên môn sẽ xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật về điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học. Giai đoạn 2027-2028 tiếp tục hoàn thiện các định mức chuyên ngành; từ năm 2027 đến năm 2030 triển khai điều tra tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Hoạt động đánh giá loài nguy cấp, quý, hiếm và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia được thực hiện hằng năm; chương trình sẽ được tổng kết vào năm 2030.

Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, tổng hợp kết quả và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia. Các đơn vị chuyên ngành về lâm nghiệp, thủy sản, biển và hải đảo phối hợp xây dựng quy trình kỹ thuật, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch tại địa phương, bố trí kinh phí và tích hợp dữ liệu vào hệ thống quốc gia. Ban quản lý các khu bảo tồn trực tiếp tổ chức điều tra, kiểm kê, quan trắc; định kỳ báo cáo và đề xuất giải pháp bảo vệ các hệ sinh thái, loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm./.

 

Minh Ánh 

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/xay-dung-co-so-du-lieu-da-dang-sinh-hoc-tai-cac-khu-bao-ton-thien-nhien.html

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Bạn đọc quan tâm

Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com