Thời gian qua, các nhiệm vụ khoa học-công nghệ được tỉnh Tuyên Quang triển khai gắn với nhu cầu thực tiễn sản xuất và đời sống. Từ bảo tồn nguồn gien cây trồng bản địa, phát triển cây dược liệu đến các dự án chăn nuôi, sản xuất ứng dụng kỹ thuật mới đã mở ra khả năng chuyển giao, nhân rộng, tạo sinh kế cho người dân.
Nổi bật là dự án bảo tồn và phát triển nguồn gien cây tam thất hoang được triển khai tại xã biên giới Tùng Vài đồng thời xây dựng khu khảo nghiệm, nhân giống với quy mô khoảng 5.000 m² và mô hình trồng, hoàn thiện quy trình kỹ thuật với quy mô khoảng 2 ha. Kết quả của dự án đã góp phần bảo tồn nguồn gien dược liệu quý, đồng thời tạo cơ sở khoa học để phát triển vùng trồng dược liệu có giá trị kinh tế cao. Mô hình trồng tam thất hoang đã được triển khai, từng bước đánh giá khả năng thích nghi và phát triển trong điều kiện sinh thái địa phương.
Ngành chức năng triển khai thử nghiệm sâm Ngọc Linh, sâm Lai Châu và một số loài tam thất tại xã Thượng Lâm; nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản, làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển cây dược liệu phù hợp điều kiện tự nhiên của địa phương. Đơn cử như dự án xây dựng hệ thống thông tin tích hợp với internet vạn vật để theo dõi, giám sát các chỉ tiêu chất lượng nước tại ba điểm nuôi trồng thủy sản tại các xã Nà Hang, Chiêm Hóa; tổ chức hướng dẫn, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật và các hộ nuôi. Kết quả bước đầu giúp người sản xuất chủ động theo dõi môi trường nước, cảnh báo các yếu tố bất lợi và nâng cao hiệu quả quản lý quá trình nuôi.
Dự án ứng dụng biện pháp sinh học trong sản xuất rau, quả trong nhà màng đã nghiên cứu, thử nghiệm các chế phẩm sinh học và biện pháp phòng trừ sinh vật gây hại; xây dựng mô hình sản xuất một số loại rau, quả như cà chua cherry, dưa chuột baby, dưa thơm và các sản phẩm rau, quả có giá trị với tổng quy mô khoảng 1 ha/mô hình tại các xã Thái Hòa, Tân Thanh, phường Minh Xuân; xây dựng hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức chuyển giao cho khoảng 100 lượt người. Mô hình góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, ứng dụng công nghệ cao.
Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ, các nhiệm vụ khoa học-công nghệ sát với thực tế chăn nuôi, sản xuất, giải quyết được những vấn đề cụ thể ở cơ sở. Kết quả nghiên cứu có khả năng chuyển giao, ứng dụng và nhân rộng để khoa học-công nghệ tạo ra giá trị trong sản xuất và đời sống.
Trước yêu cầu phát triển bền vững, tại Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn 2045, Tuyên Quang tập trung ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ trực tiếp các khâu trọng tâm: Bảo tồn nguồn gen; chọn tạo và nhân giống cây lâm nghiệp; quản lý sức khỏe rừng và phòng trừ sinh vật gây hại; chế biến và sử dụng hiệu quả các phụ phẩm lâm nghiệp.
Về trồng trọt, lâm nghiệp: Ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ tế bào và di truyền phân tử để bảo tồn, đánh giá, phục tráng và chọn tạo các tính trạng quý trên các loài cây trồng chủ lực, cây bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế và bảo tồn cao. Ứng dụng các kỹ thuật nhân giống hiện đại, sạch bệnh nhằm nâng cao tỷ lệ sống, khả năng thích ứng và sức chống chịu đối với dịch hại. Rà soát nguồn giống, cơ sở và năng lực sản xuất, nhu cầu sử dụng theo từng vùng sinh thái; xác định vật liệu giống ưu tiên và đơn vị tiếp nhận nhằm đảm bảo rõ nguồn gốc, chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và chi phí trước khi đưa vào sản xuất, thương mại hóa và nhân rộng.
Công nghệ sinh học được đánh giá là giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Rà soát, xác định sâu, bệnh hại tại vườn ươm và rừng trồng. Phối hợp với cơ quan chuyên ngành bảo vệ thực vật, các cơ sở nghiên cứu và chủ rừng lựa chọn, khảo nghiệm, trình diễn các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm sinh học đủ điều kiện lưu hành. Tăng cường ứng dụng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), đẩy mạnh sử dụng phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm sinh học; phấn đấu giảm tối thiểu 20% lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học tại các vùng tham gia mô hình. Tổ chức các lớp tập huấn về IPHM cho nông dân nhằm nâng cao năng lực tiếp nhận và chuyển giao kỹ thuật vào thực tiễn.
Về chăn nuôi, thú y và thủy sản: Ứng dụng công nghệ sinh học di truyền và phối giống nhân tạo nhằm nâng cao chất lượng đàn trâu, bò, lợn đen bản địa và gia cầm trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, đẩy mạnh sử dụng vắc-xin, chế phẩm sinh học, enzyme, vi sinh vật có lợi trong chăn nuôi và xử lý chất thải, giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất phân hữu cơ. Ứng dụng công nghệ sinh học và sinh sản nhân tạo để chọn tạo, sản xuất các giống cá đặc sản, quý hiếm của tỉnh có chất lượng cao, tăng trưởng nhanh, sạch bệnh và thích nghi tốt với môi trường lòng hồ, sông ngòi. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng các chế phẩm vi sinh, enzyme và KIT chẩn đoán nhanh nhằm nâng cao hệ miễn dịch, cải thiện môi trường nước, chủ động phòng ngừa dịch bệnh trong nuôi cá lồng bè trên sông, hồ thủy điện.
Về bảo quản, chế biến sau thu hoạch: Ứng dụng công nghệ sinh học trong công tác bảo quản sau thu hoạch nhằm kéo dài thời gian bảo quản tươi. Ứng dụng công nghệ lên men vi sinh thế hệ mới trong chế biến đối với các sản phẩm nông sản đặc sản của tỉnh đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Tỉnh tập trung nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các giải pháp công nghệ sinh học làm sạch môi trường tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, trang trại nông lâm nghiệp, làng nghề và khu dân cư tập trung; bãi chôn lấp, xử lý rác thải. Đồng thời, khắc phục tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản, chăn nuôi; sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Tuyên Quang khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, năng lực nghiên cứu hiện có; tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ có năng lực để tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng kết quả nghiên cứu về công nghệ gen, công nghệ tế bào, vi sinh vật và các chế phẩm sinh học trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi; bảo tồn, phục tráng và phát triển nguồn gen bản địa; sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học; xử lý phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi; phát triển dược liệu và nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng của các sản phẩm nông, lâm nghiệp chủ lực của tỉnh.
Phối hợp với các đơn vị nghiên cứu xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu số mã định danh DNA Barcode đối với các nguồn gen bản địa, giống cây trồng, vật nuôi, cây dược liệu bản địa có giá trị khoa học, kinh tế và bảo tồn trên địa bàn tỉnh; đặc biệt là các nguồn gen cây trồng, vật nuôi đặc hữu, quý hiếm của tỉnh như: Bò H'Mông, Lợn Lũng Pù, Gạo Khẩu Mang, Chè Shan tuyết Hà Giang, Hồng không hạt, một số loài cây lâm nghiệp bản địa, cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị bảo tồn, kinh tế, …
Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số quản lý giống cây trồng, cơ sở sản xuất giống và vùng nguyên liệu trên phạm vi toàn tỉnh (tới cấp xã, phường có sản xuất trồng trọt), tích hợp dữ liệu sinh vật gây hại phục vụ công tác chỉ đạo điều hành. Rà soát nhu cầu thị trường, nguồn nguyên liệu, điều kiện hạ tầng và năng lực của doanh nghiệp để lựa chọn sản phẩm phù hợp với điều kiện của tỉnh; ưu tiên giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân bón hữu cơ, phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm xử lý môi trường và chế phẩm phục vụ bảo quản, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản.
Hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn liên kết với các cơ sở nghiên cứu, sản xuất vắc-xin, thuốc thú y sinh học và bộ xét nghiệm phục vụ phòng, chống dịch bệnh, kiểm soát chất lượng sản phẩm. Lựa chọn sản phẩm, vùng nguyên liệu và doanh nghiệp phù hợp để xây dựng mô hình liên kết từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất đến sử dụng và tiêu thụ. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã, cơ sở sản xuất và đơn vị chế biến; ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ, xử lý phụ phẩm và chất thải nông nghiệp./.
Lê Hồng
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/ung-dung-cong-nghe-sinh-hoc-phuc-vu-phat-trien-nong-nghiep-ben-vung.html