Năm 2025, tỉnh Sơn La ghi nhận nhiều cột mốc tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt gần 39.000 tỷ đồng, tăng 8,03% so với năm trước. Tuy nhiên, cùng với đà tăng trưởng mạnh mẽ, báo cáo về công tác bảo vệ môi trường năm 2025 cho thấy, quá trình phát triển kinh tế-xã hội cũng gây tác động đến công tác bảo vệ môi trường.
Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,48%; các ngành chế biến, chế tạo, sản xuất, phân phối điện và khai khoáng tiếp tục mở rộng. Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp như Mai Sơn, Gia Phù, Mộc Châu tạo thêm việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, song cũng gia tăng áp lực môi trường do hạ tầng thu gom, xử lý nước thải tại một số cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ.
Đô thị hóa tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý mới đạt khoảng 22%, dù đã cải thiện so với giai đoạn trước; phần lớn còn lại xả trực tiếp ra môi trường, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm lâu dài. Kết quả quan trắc môi trường năm 2025 cho thấy chất lượng không khí cơ bản nằm trong giới hạn cho phép đối với các thông số CO, SO, NO, PM; tuy nhiên, tiếng ồn và bụi lơ lửng có thời điểm vượt quy chuẩn tại một số khu vực trung tâm đô thị, bến xe, chợ, bệnh viện, do mật độ giao thông, xây dựng và dân cư tăng cao. Trước thực tế trên, tỉnh xác định bảo vệ môi trường là trụ cột xuyên suốt trong phát triển bền vững;
Thực hiện Nghị quyết số 247 năm 2025 của Quốc hội khóa XV về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tại địa phương, tỉnh Sơn La sẽ rà soát toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến môi trường để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị điều chỉnh những nội dung chồng chéo, thiếu tính khả thi. Đồng thời, tăng cường phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ;
Để đáp ứng yêu cầu xử lý, tỉnh Sơn La sẽ đầu tư, nâng cấp các nhà máy nhà máy tái chế, xử lý chất thải hữu cơ và chất thải nguy hại.
Tỉnh tập trung đầu tư các công trình hạ tầng môi trường thiết yếu như: hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị; thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải; nhà máy tái chế, xử lý chất thải hữu cơ và chất thải nguy hại; phục hồi môi trường lưu vực sông; thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường được bố trí tăng dần theo từng giai đoạn, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa, tài chính xanh, hợp tác công tư. Sơn La khuyến khích phát triển các dự án tạo tín chỉ các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp, năng lượng tái tạo, nông nghiệp các-bon thấp, xử lý chất thải và giao thông xanh.
Tỉnh cũng nghiên cứu, xây dựng Đề án thí điểm kinh doanh tín chỉ các-bon rừng, kiểm kê và giảm phát thải khí nhà kính, đóng góp vào mục tiêu quốc gia về NDC giai đoạn 2026–2035. Sơn La tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý chất thải, kiểm soát nguồn thải, quan trắc và cảnh báo môi trường; phát triển cơ sở dữ liệu môi trường, tích hợp với hệ thống thông tin quốc gia.
Các thủ tục hành chính về môi trường được cung cấp trực tuyến toàn trình, không phụ thuộc địa giới hành chính; thúc đẩy cấp phép điện tử, minh bạch hóa quy trình quản lý. Địa phương này đồng thời triển khai Quyết định số 1894/QĐ-TTg về phát triển ngành công nghiệp môi trường giai đoạn 2025–2030; xây dựng mô hình đô thị sinh thái thông minh, giao thông và quản lý năng lượng thông minh.
Tỉnh Sơn La đặt mục tiêu đến năm 2030: Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 98%; khu vực nông thôn đạt trên 90%. 100% khu xử lý chất thải rắn có khu vực phân loại, lưu giữ, xử lý riêng chất thải nhựa. Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn trên 50% đối với đô thị loại II trở lên và trên 20% đối với các đô thị còn lại.
Tỉnh sẽ kiểm soát chặt khí thải phương tiện giao thông, từng bước loại bỏ phương tiện không đạt chuẩn; tăng cường quản lý chất thải từ xây dựng, giao thông và đốt phụ phẩm nông nghiệp; duy trì kiểm soát chất lượng không khí, không để gia tăng ô nhiễm. Đối với các điểm ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là bãi chôn lấp không hợp vệ sinh và khu vực tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật, tỉnh sẽ xây dựng kế hoạch xử lý, cải tạo, phục hồi theo quy định.
Cùng với đầu tư hạ tầng, tiếp tục triển khai các giải pháp phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn từ sớm, từ xa nguy cơ ô nhiễm, sự cố môi trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường tại khu, cụm công nghiệp và làng nghề; nâng cao chế tài xử lý, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa vi phạm; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc, khiếu kiện phức tạp về môi trường ngay từ cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.../.
Hồng Ngát