Phát triển bền vững và xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa

24/02/2026 21:38

MTNN Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 309/QĐ-TTg ngày 23/2/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).

Phát triển bền vững và xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa

Mục tiêu là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm giá trị gia tăng cao. Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.

Đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5,0% - 6,0%/năm

Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm khoảng 12,0% - 14,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm. Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 60% - 65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. Sữa bột tăng trưởng khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 245 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 40 lít/người/năm.

Đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hàng năm từ 5,0% - 6,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm. Sữa bột tăng trưởng khoảng 3,0% - 4,0%/năm, sản lượng sữa bột đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm. Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 80% - 85% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.

Xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa đảm bảo an toàn thực phẩm

Với mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra định hướng phát triển ngành sữa là: Xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Từng bước nâng cao số lượng bò sữa trong nước nhằm tận dụng tối đa lợi thế đất nước nông nghiệp, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu chế biến trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm sữa và nguyên liệu chế biến sữa. Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại bò sữa tập trung kết hợp với chăn nuôi hợp tác xã, nông hộ, gắn với mục tiêu hiện đại hóa khu vực nông nghiệp nông thôn.

Đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm sữa đi đôi với nâng cao chất lượng, hình thức, mẫu mã và bao bì sản phẩm. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, blockchain, AI trong quản lý đàn bò, truy xuất nguồn gốc, phân phối sữa nhằm nâng cao tỷ trọng sản phẩm sữa có giá trị gia tăng cao, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó hình thành các sản phẩm chủ lực có tính đột phá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm mới, giá trị cao

Đồng thời, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu thị trường kết hợp với nghiên cứu sản xuất chế phẩm, phụ gia, hương liệu phục vụ ngành sữa hướng đến việc phát triển các sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng và theo kịp xu hướng tiêu dùng sữa và sản phẩm chế biến sữa trên thế giới.

Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sữa và chế phẩm từ sữa, sữa công thức dành cho các đối tượng theo vòng đời như trẻ em, người cao tuổi, sữa dành cho người có nhu cầu chuyên biệt; đối với sữa học đường chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, đảm bảo tiếp cận sữa tươi cho các vùng khó khăn, trẻ em nghèo, học sinh dân tộc thiểu số.

Thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo, đầu tư ứng dụng các dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường. Đồng thời ưu tiên thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị, bao gồm: phát triển giống bò sữa năng suất cao, chất lượng sữa tốt phù hợp với thổ nhưỡng các vùng miền đất nước nhằm tăng nhanh sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công nghệ chế biến, bảo quản, phân phối sản phẩm.

Hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa

Đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm.

Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu.

Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao. Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến. Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.

Nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước

Về thị trường, đối với thị trường trong nước: Đẩy mạnh đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về giá trị của sữa theo hướng ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả các kênh phân phối, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

Từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã và cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả. Song hành với phát triển thị trường sản phẩm cần có các chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.

Đa dạng hóa thị trường xuất

Đối với thị trường xuất khẩu: Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng cường công tác nghiên cứu, tìm kiếm và phát triển thị trường mới. Đẩy mạnh công tác đàm phán kỹ thuật thú y, mở rộng thị trường nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tập trung khai thác hiệu quả các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các cam kết quốc tế khác, đồng thời chủ động tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường.

Đẩy mạnh hoạt động xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sữa Việt Nam, phát triển chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm sữa chế biến. Hỗ trợ doanh nghiệp ngành sữa trong các vấn đề pháp lý, giải quyết tranh chấp thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tham gia vào thị trường quốc tế.

Đối với thị trường nhập khẩu: Nghiên cứu tiếp cận nhập khẩu công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển ngành sữa trong nước. Đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tìm kiếm, lựa chọn và khai thác các thị trường uy tín, đảm bảo ổn định nguồn cung chất lượng với giá thành cạnh tranh, nhập khẩu sản phẩm sữa trong nước còn thiếu, chưa chế biến được phù hợp với thị hiếu người Việt. Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất, chế biến sữa ở các nước có điều kiện phát triển, để cân đối những phần sữa còn thiếu hụt cho thị trường trong nước.

Đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sản phẩm sữa

Để đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sản phẩm sữa, Chiến lược thực hiện rà soát các tiêu chuẩn (TCVN), quy chuẩn (QCVN), bổ sung, cập nhật theo nguyên tắc đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế như: Codex, ISO, HACCP, OAOC và các tiêu chuẩn sản phẩm đối với thị trường đặc thù (Halal). Các sản phẩm sữa phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm có liên quan.

Xây dựng các trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế. Bố trí kinh phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất về an toàn thực phẩm trong các sản phẩm sữa, từ sữa nguyên liệu đến sữa chế biến. Tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo nhân lực làm công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm.

Phát triển mô hình sản xuất xanh trong ngành sữa

Một trong những nhiệm vụ mà Chiến lược đặt ra là phát triển bền vững và xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa bằng cách đẩy mạnh lựa chọn áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến; đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), phát triển nhãn xanh - nhãn sinh thái cho sản phẩm sữa; chú trọng công nghệ "Sản xuất sạch hơn", đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, lấy việc phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu chất thải, hạn chế phát sinh những chất thải có tác động tiêu cực đến môi trường; kết hợp với biện pháp xử lý cuối nguồn để đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường; áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất sữa nguyên liệu và chế biến sản phẩm sữa.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về an toàn và bảo vệ môi trường của các đơn vị, doanh nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng kiểm định máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu sản xuất để đảm bảo nghiêm ngặt về an toàn sản xuất, an toàn lao động. Trang bị đầy đủ hệ thống thiết bị quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại cơ sở sản xuất, nhà máy chế biến sữa, bảo đảm tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành về môi trường.

Thúc đẩy phát triển mô hình sản xuất xanh trong ngành sữa, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, phát triển sản phẩm theo hướng tăng trưởng xanh. Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong sản xuất và tiêu dùng, góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính...

Phương Nhi

Nguồn baochinhphu.vn
Link bài gốc

https://baochinhphu.vn/phat-trien-ben-vung-va-xanh-hoa-nganh-cong-nghiep-che-bien-sua-102260224161003903.htm

;
Bình luận
Họ tên :
Email :
Lời bình :
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper 
 
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.
   
Mobile
TieuDe
Nhập mã bảo mật :  
Gửi bình luận
     
Mới nhất | Cũ nhất
Không tìm thấy bản ghi nào

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Bạn đọc quan tâm

Scroll

Kênh thông tin giới trẻ - gioitrenews.com