Đắk Lắk hiện là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn thứ ba cả nước (trên 18.000 km2), dân số hơn 3,3 triệu người. Nằm ở vị trí giao thoa giữa Tây Nguyên và duyên hải miền Trung, Đắk Lắk sở hữu điều kiện lý tưởng để phát triển nông nghiệp chất lượng cao. Đắk Lắk hiện có nhiều cơ hội mở rộng không gian phát triển toàn diện về kinh tế, trong đó ngành nông nghiệp là một trong những lợi thế của địa phương. Cùng với đó, Chính phủ và các địa phương cũng đang triển khai nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ ngành nông nghiệp về đầu tư hạ tầng, các dự án, phát triển ngành hàng chủ lực, vùng nguyên liệu…
Với sự hỗ trợ, đồng hành của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, ngành nông nghiệp Đắk Lắk đã và đang ngày càng lớn mạnh. Đắk Lắk hiện có 307.708 ha cây lâu năm; 441.343 ha cây hằng năm; 76.783 ha cây ăn quả có giá trị cao như sầu riêng, bơ, vải, nhãn…; tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh duy trì ổn định trên 22,7 triệu con; diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh hiện nay đã chiếm khoảng trên 5% diện tích mặt nước với các chủng loại thủy hải sản nước ngọt và nước mặn; thu nhập kinh tế từ rừng đã và đang được nâng cao…
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ, Khuyến nông Đắk Lắk tiếp tục là “người bạn đồng hành” tin cậy của nông dân. Không chỉ tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, lực lượng Khuyến nông còn thúc đẩy ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh; xây dựng mô hình sản xuất bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu; hỗ trợ nông dân tiếp cận thông tin thị trường và chính sách mới để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản địa phương trên thị trường…
Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh Đắk Lắk xác định khuyến nông là cầu nối chuyển giao khoa học công nghệ, phát triển khuyến nông theo tư duy kinh tế nông nghiệp, gắn với nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng nhằm tạo đột phá về năng suất, chất lượng, phát triển nông nghiệp có chứng nhận, sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, bền vững, bảo vệ môi trường thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thời gian tới, các mô hình, dự án khuyến nông tập trung chuyển giao đồng bộ giải pháp, công nghệ tiên tiến, tổ chức sản xuất và liên kết theo chuỗi giá trị, tăng hiệu quả kinh tế và được nhân rộng trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2026-2030, ưu tiên xây dựng 160 mô hình trình diễn ở các lĩnh vực:
Đối với chăn nuôi: Xây dựng 25 mô hình, chiếm 15,62% mô hình trình diễn với quy mô 74.628 con để phát triển vật nuôi chủ lực theo hướng an toàn sinh học, đảm bảo an toàn thực phẩm, gắn với bảo vệ môi trường phát triển bền vững: Xây dựng 14 mô hình chăn nuôi gia cầm, thủy cầm hướng thịt, chuyên trứng với tổng quy mô 73.000 con; Xây dựng 11 mô hình phát triển chăn nuôi gia súc có quy mô 1.628 con. Trong đó, ưu tiên chuyển giao khoa học công nghệ có 05 mô hình chăn nuôi, chiếm 20% tổng số các mô hình thuộc lĩnh vực chăn nuôi cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa để góp phần giảm nghèo bền vững.
Về thủy sản: Xây dựng 15 mô hình, chiếm 9,37% tổng số mô hình trình diễn, phát triển theo hướng an toàn dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu, hiệu quả kinh tế tăng từ 10-15% so với ngoài mô hình, trong đó: Xây dựng 11 mô hình với quy mô 39.230 m2 ao/lồng bè để phát triển nuôi thủy sản nước ngọt; Xây dựng 04 mô hình với quy mô 16.000 m2 ao để phát triển nuôi thủy sản nước lợ, mặn.
Việc đẩy mạnh chuyển giao khoa học-công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất (Ảnh minh họa).
Về phát triển cơ giới hóa- ứng dụng công nghệ cao: Xây dựng 03 mô hình, chiếm 1,87% tổng số mô hình trình diễn, gồm các mô hình: máy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tưới nhỏ giọt quấn gốc, tưới phun mưa cục bộ cho cây ăn quả và cây công nghiệp chủ lực của tỉnh tạo hệ thống tưới hoạt động ổn định, cung cấp đủ nước theo nhu cầu của cây trồng.
Về trồng trọt: Xây dựng 104 mô hình trình diễn chuyển giao khoa học công nghệ, chiếm 65% tổng số mô hình trình diễn, với quy mô 734,5 ha, trong đó: Xây dựng 16 mô hình phát triển cây rau, hoa theo hướng sản xuất hàng hóa, chiếm 15,38% tổng số mô hình trồng trọt, với quy mô 33,5 ha (gồm các mô hình: sản xuất rau ăn quả theo VietGAP, sản xuất rau ăn lá theo VietGAP nhóm rau 65-70 ngày, rau ăn quả (mướp đắng, ớt), sản xuất hoa cúc, hoa lily, hoa sen trồng ruộng, đầm, ao);
Xây dựng 26 mô hình phát triển cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày theo hướng chất lượng cao, chiếm 25% tổng số mô hình trồng trọt, với quy mô 319 ha (gồm các mô hình: sản xuất lúa hữu cơ, sản xuất lúa thuần, sản xuất cây ngô trên đất dốc, sản xuất cây sắn an toàn dịch bệnh, sản xuất lạc, sản xuất cây mía)...
Về lâm nghiệp: Xây dựng 13 mô hình, chiếm 8,12% tổng số mô hình trình diễn với quy mô 341 ha để bảo vệ, phát triển lâm nghiệp bền vững (gồm các mô hình: trồng cây đàn hương, trồng mắc ca theo phương thức trồng thuần, ghép cải tạo mắc ca, trồng xen mắc ca, trồng keo lai giâm hom), khả năng nhân rộng ≥ 10% diện tích so với diện tích mô hình được thực hiện.
Tỉnh thúc đẩy huyển đổi số hoạt động khuyến nông: Tối thiểu 30% mô hình khuyến nông sử dụng ngân sách nhà nước được quản lý trên hệ thống khuyến nông số (khi có nền tảng), hạ tầng công nghệ số hoặc các phần mềm phục vụ công tác khuyến nông; ưu tiên sử dụng các tài liệu kỹ thuật khuyến nông đã được số hóa, phổ biến trên hệ thống khuyến nông số; các sản phẩm của mô hình, dự án khuyến nông được giới thiệu, quảng bá trên môi trường số.
Bên cạnh đó, 100% cán bộ khuyến nông, khuyến nông cộng đồng, nông dân chủ chốt được đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số góp phần xây dựng lực lượng nông dân số, nông dân thông minh. Xây dựng, triển khai các chương trình, dự án, kế hoạch khuyến nông trọng điểm phục vụ phát triển các ngành hàng, sản phẩm chủ lực quốc gia, của tỉnh gắn với các vùng nguyên liệu sản xuất tập trung, chất lượng cao, quy mô lớn bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu...
Trong giai đoạn tới, hoạt động khuyến nông tại tỉnh tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học-công nghệ, giải pháp tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ tự động hóa; tăng cường hoạt động khuyến nông nhằm xây dựng nền nông nghiệp thông minh, an toàn, tuần hoàn, hiệu quả và bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực sản xuất và tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương.
Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp mới làm mẫu cho các vùng chuyên canh, đáp ứng yêu cầu thị trường: nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, tiết kiệm tài nguyên và phát thải carbon thấp; nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, thông minh, công nghệ cao, sinh học, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, nông nghiệp kết hợp công nghiệp chế biến, nông nghiệp trải nghiệm, nông nghiệp kết hợp du lịch, nông nghiệp đô thị... Đánh giá, nhân rộng các mô hình hiệu quả, giới thiệu công nghệ và phương pháp quản lý mới./.
Thu Hoài
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/thuc-day-chuyen-giao-khoa-hoc-cong-nghe-hien-dai-hoa-nen-nong-nghiep.html