Theo đó, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Quyết định số 64/2026/QĐ-UBND quy định về bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hà Nội. Văn bản này quy định về vùng phụ cận đối với công trình thủy lợi chưa được quy định tại Điều 40 Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14; cắm mốc chỉ giới đối với công trình thủy lợi chưa được quy định tại Thông tư số 08/2026/TT-BNNMT; trách nhiệm bảo vệ công trình thủy lợi của cơ quan, địa phương, đơn vị; áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến công trình thủy lợi.
Phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi bao gồm công trình và vùng phụ cận. Trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, các hoạt động phải bảo đảm không gây cản trở cho việc vận hành và an toàn công trình; phải có đường quản lý, mặt bằng để bảo trì và xử lý khi công trình xảy ra sự cố.
Công trình thủy lợi khi điều chỉnh quy mô, mục đích sử dụng phải điều chỉnh vùng phụ cận theo quy định tại khoản 6 Điều 40 Luật Thủy lợi. Về vùng phụ cận của kênh chưa được quy định tại Luật Thủy lợi, đối với kênh xác định được chân mái ngoài, có lưu lượng nhỏ hơn 02 m3/s, vùng phụ cận được tính từ chân mái ngoài trở ra tối thiểu là 01 m cho cả kênh đất và kênh kiên cố.
Đối với kênh không xác định được chân mái ngoài, vùng phụ cận được xác định từ giao tuyến giữa mái trong kênh với mặt đất tự nhiên trở ra đối với kênh đất và từ phần xây đúc ngoài cùng trở ra đối với kênh kiên cố: Kênh có lưu lượng nhỏ hơn 02 m3/s, vùng phụ cận tối thiểu là 02 m; kênh có lưu lượng 02 m3/s đến 10 m3/s, vùng phụ cận tối thiểu từ 04 m đến 05 m đối với kênh đất, từ 03 m đến 04 m đối với kênh kiên cố; kênh có lưu lượng trên 10 m3/s, vùng phụ cận tối thiểu từ 05 m đến 06 m đối với kênh đất, từ 04 m đến 05 m đối với kênh kiên cố.
Bên cạnh đó, đối với đoạn kênh trong cùng một tuyến kênh không xác định được chân mái ngoài; vùng phụ cận được xác định theo đoạn kênh liền kề cùng tuyến xác định được chân mái ngoài, nhưng không nhỏ hơn vùng phụ cận quy định tại khoản 2 Điều này. Về vùng phụ cận của công trình thủy lợi chưa được quy định tại Luật Thủy lợi: Đối với trạm bơm, phạm vi bảo vệ của trạm bơm là toàn bộ diện tích đất được giao khi xây dựng và đưa công trình vào sử dụng.
Ảnh minh họa
Ngoài ra, đối với bờ bao, vùng phụ cận được tính từ chân mái ngoài trở ra đối với bờ bao đất, từ phần xây đúc ngoài cùng trở ra đối với bờ bao kiên cố: Bờ bao loại nhỏ, vùng phụ cận tối thiểu là 01 m; bờ bao loại vừa, vùng phụ cận tối thiểu là 02 m; bờ bao loại lớn, vùng phụ cận tối thiểu là 03 m.
Đối với công trình dẫn, chuyển nước là đường ống, xi phông, tuy nel, cầu máng; vùng phụ cận được tính từ phần xây đúc ngoài cùng trở ra đối với công trình xây nổi và mặt đứng được tính từ phần xây đúc ngoài cùng trở ra đối với công trình xây chìm: Công trình có lưu lượng nhỏ hơn 01 m3/s, vùng phụ cận tối thiểu là 02 m; công trình có lưu lượng từ 01 m3/s đến 05 m3/s, vùng phụ cận từ 03 đến 04 m; công trình có lưu lượng trên 05 m3/s, vùng phụ cận từ 04 đến 05 m.
Đối với công trình thủy lợi kết hợp làm đường giao thông, phạm vi bảo vệ được xác định theo quy định về an toàn giao thông đường bộ, nhưng không nhỏ hơn phạm vi bảo vệ của công trình thủy lợi được quy định tại điểm a khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 40 Luật Thủy lợi; Điều 3 và khoản 2, khoản 3 Điều 4 Quy định này.
Việc ban hành quy định mới góp phần hoàn thiện hành lang quản lý đối với hệ thống thủy lợi trên địa bàn Hà Nội, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc sử dụng, khai thác và bảo vệ công trình, đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng và phòng chống thiên tai trong tình hình mới.
Trung Đức