Thực tế đang đặt ra nhiều thách thức về kiểm soát nguồn nước. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, cùng với gia tăng khai thác, sử dụng nước và áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều nguồn nước hiện đang suy thoái nhanh chóng. Không ít dòng sông, kênh, rạch đã bị ô nhiễm nặng nề, thậm chí trở thành những “dòng sông chết”, không còn khả năng tự làm sạch. Hệ lụy không chỉ dừng lại ở môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cấp nước sinh hoạt, sản xuất, sức khỏe cộng đồng và cân bằng hệ sinh thái.
Trước thực trạng này, cơ quan chức năng đã xác định phục hồi nguồn nước là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược trong bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia. Để có hành lang pháp lý cụ thể, Luật Tài nguyên nước đã bổ sung nhiều quy định, chính sách liên quan đến phục hồi các dòng sông như quy định cơ chế, chính sách về tài chính cho hoạt động phục hồi nguồn nước để có cơ sở huy động, phân bổ nguồn lực phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm.
(Ảnh minh họa)
Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đề án "Điều tra, đánh giá và đề xuất phương án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê". Đề án này triển khai nhằm điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển nguồn nước mặt; quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên các sông; thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn lực xã hội... Đây là nhiệm vụ không chỉ cấp bách trước mắt mà còn mang tính lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống từ cơ quan quản lý, nhà khoa học đến doanh nghiệp và cộng đồng.
Phân tích về nguyên nhân gây suy thoái nguồn nước, các chuyên gia cho rằng, khi lượng nước tự nhiên không còn được duy trì, khả năng tự làm sạch của sông gần như bị triệt tiêu. Điều này khiến các chất ô nhiễm tích tụ, làm gia tăng nhanh chóng các chỉ số ô nhiễm. Nói cách khác, chất lượng nước suy giảm thực chất là hệ quả của sự thiếu hụt về số lượng. Từ đó, đề xuất cần tiếp cận bài toán phục hồi theo hướng tổng thể, kết hợp đồng thời các giải pháp công trình và phi công trình. Trong đó, các giải pháp kỹ thuật như bổ cập nước dưới đất, xây dựng hệ thống điều tiết, duy trì dòng chảy đóng vai trò quan trọng nhằm khôi phục “mạch nước” cho các dòng sông.
Bên cạnh giải pháp kỹ thuật, yếu tố chiến lược và quản trị đóng vai trò quyết định. Việc xác định đúng mục tiêu, xây dựng hệ thống tiêu chí rõ ràng và tổ chức giám sát thường xuyên sẽ giúp nhận diện chính xác các vùng suy thoái. Khi trả lời được câu hỏi phục hồi ở đâu, vào thời điểm nào và với mức độ ra sao, nguồn lực đầu tư mới phát huy hiệu quả, tránh lãng phí.
Từ thực tiễn các lưu vực sông trọng điểm như Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy hay Ngũ Huyện Khê, các chuyên gia cho rằng việc phục hồi nguồn nước cần được triển khai theo cách tiếp cận liên ngành, liên vùng. Một trong những giải pháp được nhấn mạnh là thiết lập hệ thống giám sát định kỳ gắn với việc cập nhật danh mục nguồn nước hằng năm. Đây là nền tảng giúp theo dõi biến động, nhận diện sớm rủi ro và kịp thời điều chỉnh chính sách quản lý.
Trên cơ sở đó, việc hiện đại hóa hệ thống quan trắc tài nguyên nước theo hướng tự động, liên tục được xem là bước đi then chốt nhằm nâng cao chất lượng giám sát. Dữ liệu thu thập sẽ được kết nối, tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia và phát triển theo thời gian thực. Khi được chuẩn hóa và liên thông, hệ thống này cho phép cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, lựa chọn giải pháp phù hợp cho từng lưu vực và từng thời điểm, thay vì phản ứng bị động như trước.
Điểm nhấn quan trọng được nhiều chuyên gia thống nhất là cần chuyển đổi tư duy quản lý, từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo lưu vực sông, phù hợp với quy luật tự nhiên của dòng chảy. Đồng thời, thay vì chỉ kiểm soát ô nhiễm, cần tiếp cận theo hướng đánh giá “sức khỏe” của hệ thống nước để có giải pháp căn cơ, lâu dài. Song song với đó là kiểm soát chặt chẽ nguồn thải, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải, kết hợp bổ sung nguồn nước sạch để cải thiện chất lượng nước. Các chuyên gia cũng nhấn mạnh việc tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng gắn kết quản lý nước với quy hoạch đô thị, hình thành các hành lang sinh thái, không gian xanh ven sông.
Đây không chỉ là giải pháp môi trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống và tạo động lực phát triển kinh tế. Về nguồn lực, khu vực tư nhân được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng. Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng nền tảng, trong khi khuyến khích doanh nghiệp tham gia các dự án xử lý nước, cải tạo sông, phát triển dịch vụ liên quan.
HẢI YẾN
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/giai-phap-phuc-hoi-trong-boi-canh-mot-so-nguon-nuoc-bi-suy-thoai.html