Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc xây dựng chính sách dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đồng thời tạo nền tảng thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những chuyển biến mạnh mẽ liên quan đến không gian đại dương, các ngành kinh tế biển truyền thống như vận tải biển, thủy sản, du lịch, dầu khí tiếp tục phát triển, đồng thời xuất hiện nhiều lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và công nghệ sinh học biển. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm đa dạng sinh học và rác thải nhựa đại dương.
(Ảnh minh họa)
Biển và hải đảo có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế-xã hội, gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng trên 1 triệu km2 với hệ sinh thái phong phú và tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, không gian biển cũng đang chịu sức ép ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, sau gần 10 năm triển khai, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển và sự thay đổi của hệ thống pháp luật.
Trên cơ sở tổng kết thi hành Luật, rà soát pháp luật hiện hành và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng hồ sơ chính sách của dự án Luật với 5 nhóm chính sách lớn, gồm: tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng thống nhất, minh bạch; hoàn thiện chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ và các hệ sinh thái nhạy cảm; tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, nhất là rác thải nhựa; thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý biển; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Theo các chuyên gia, chính sách thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển theo hướng xanh, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát để tránh chồng chéo với các luật khác; đa dạng hóa các hình thức giao khu vực biển như đấu giá, cho thuê để thu hút nguồn lực đầu tư và thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu về biển và hải đảo. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế quản lý hài hòa đối với các hoạt động cùng tồn tại trên một khu vực biển nhằm bảo đảm an toàn, đặc biệt đối với hoạt động dầu khí; đồng thời hoàn thiện quy định về bảo vệ môi trường biển phù hợp đặc thù hoạt động trên biển…/.
HOÀI AN