Theo báo cáo của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn An Giang, năm 2025 trên địa bàn tỉnh có tổng số 746.408 hộ gia đình khu vực nông thôn thuộc 87 xã/đặc khu của tỉnh sử dụng nước sạch đạt tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch là 82,1% (trong đó sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung là 75,64%; Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt QCVN từ các công trình cấp nước nhỏ lẻ: 6,54%).
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 234 công trình cấp nước tập trung cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, trong đó, có 228 công trình hoạt động bền vững, 6 công trình hoạt động tương đối bền vững. Toàn tỉnh có 4 loại mô hình công trình cấp nước tập trung: Trung tâm nước sạch và VSMT nông thôn (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường); Công ty TNHH MTV (Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Kiên Giang; Công ty Điện nước An Giang); Doanh nghiệp tư nhân, UBND xã.
Theo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn An Giang, hiện nay phần lớn các công trình đầu tư lâu năm đang xuống cấp, hoạt động hết công suất. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, hạn hán xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước từ sản xuất và sinh hoạt của con người ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nước và tính bền vững của các công trình cấp nước tập trung.
Nâng cao tỷ lệ sử dụng nước sạch tại khu vực nông thôn là nhiệm vụ quan trọng được đẩy mạnh triển khai.
Thực hiện Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%. Có 89,5% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chất lượng theo quy chuẩn với số lượng tối thiểu 60 lít/người/ngày, phấn đấu nâng tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung trên 77%. 100% hộ gia đình nông thôn, trường học, trạm y tế có nhà tiêu hợp vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Đến năm 2045: Phấn đấu 100% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch và vệ sinh an toàn, bền vững; có trên 85% số dân nông thôn sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung; 50% điểm dân cư nông thôn tập trung có hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt, 30% nước thải sinh hoạt được xử lý; 100% hộ chăn nuôi, trang trại được xử lý chất thải chăn nuôi.
Tỉnh chú trọng đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung gắn với khai thác, quản lý vận hành theo quy hoạch được duyệt, đảm bảo an ninh nguồn nước, thích ứng biến đổi khí hậu. Đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung quy mô lớn, đồng bộ, liên xã, mang tính kết nối, chia sẻ nguồn nước để đảm bảo công trình hoạt động hiệu quả, bền vững.
Đầu tư sửa chữa, nâng cấp, cải tạo đối với các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung quy mô nhỏ, tận dụng mạng đường ống để đấu nối sử dụng vào hệ thống cấp nước sạch tập trung quy mô lớn hơn; kéo dài tuyến ống, sử dụng nguồn nước từ những công trình có tính bền vững, dần tiến tới hòa mạng các công trình cấp nước tập trung để điều hòa, hỗ trợ cấp nước trong tình huống khó khăn về nguồn nước, gắn với giám sát quản lý vận hành công trình.
Ưu tiên đầu tư công trình tạo nguồn cấp nước sinh hoạt tại vùng khan hiếm, khó khăn về nguồn nước, khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước; hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực bãi ngang, ven biển, biên giới, hải đảo.
Thực hiện các giải pháp cấp nước quy mô hộ gia đình đối với những vùng gặp khó khăn trong đầu tư công trình cấp nước tập trung hoặc đầu tư công trình cấp nước tập trung không hiệu quả, vùng chưa có khả năng tiếp cận với cấp nước tập trung, nhất là các vùng khan hiếm, khó khăn về nguồn nước, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, trong đó tập trung.
Đầu tư bồn trữ nước mưa và các hình thức trữ nước khác phù hợp đặc thù ở khu vực nông thôn để đảm bảo nhu cầu nước sinh hoạt. Hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng vật liệu thu, xử lý, trữ nước an toàn hộ gia đình. Hướng dẫn kiểm tra, giám sát chất lượng nước quy mô hộ gia đình. Áp dụng mô hình thu, xử lý và trữ nước an toàn hộ gia đình; thí điểm áp dụng ki ốt, cây ATM cung cấp nước uống trực tiếp cho cụm dân cư, trường học trong trường hợp khẩn cấp do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh.
Tỉnh triển khai các giải pháp đảm bảo cấp nước an toàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, xây dựng hướng dẫn và triển khai kế hoạch cấp nước an toàn đảm bảo ứng phó thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường công tác giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn. Chia sẻ nguồn nước và các thông tin liên quan đến nguồn nước giữa các ngành, địa phương phục vụ công tác cấp nước, quản lý, bảo vệ nguồn nước.
Tỉnh chú trọng đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung.
Nâng cao năng lực xét nghiệm chất lượng nước cho các đơn vị cấp nước, đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm và thiết bị xét nghiệm hiện đại phục vụ công tác nội, ngoại kiểm chất lượng nước; năng lực xác định và xử lý sự cố gây gián đoạn, ngưng trệ hệ thống cấp nước. Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước; thiết lập, công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; từng bước thiết lập hệ thống kiểm soát, cảnh báo chất lượng, trữ lượng nguồn nước sinh hoạt, kiểm soát ô nhiễm nguồn cấp nước sinh hoạt từ các hoạt động dân sinh, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và có phương án thay thế nguồn nước trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước.
Xây dựng kế hoạch chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và khắc phục hậu quả thiếu nước sinh hoạt do ảnh hưởng thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt, úng; đảm bảo duy trì tối thiểu nguồn cấp nước sinh hoạt trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh. Ưu tiên hệ thống đường ống được kết nối liên huyện, liên xã, có tính chất đầu mối, tạo nguồn để bổ sung nguồn nước cho các công trình lân cận trong khu vực. Cải tạo, nâng cao chất lượng nước tại các công trình đã có, thay thế các dây chuyền công nghệ xử lý nước lạc hậu bằng các dây chuyền công nghệ xử lý nước tiên tiến nhằm nâng cao hiệu suất của hệ thống xử lý nước và chất lượng đầu ra đạt các chỉ tiêu theo quy chuẩn đáp ứng yêu cầu chất lượng nước, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ứng phó thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu.
Ưu tiên hệ thống đường ống được kết nối liên huyện, liên xã, có tính chất đầu mối, tạo nguồn để bổ sung nguồn nước cho các công trình lân cận trong khu vực. Cải tạo, nâng cao chất lượng nước tại các công trình đã có, thay thế các dây chuyền công nghệ xử lý nước lạc hậu bằng các dây chuyền công nghệ xử lý nước tiên tiến nhằm nâng cao hiệu suất của hệ thống xử lý nước và chất lượng đầu ra đạt các chỉ tiêu theo quy chuẩn đáp ứng yêu cầu chất lượng nước, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ứng phó thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, giải pháp cấp nước và vệ sinh thân thiện với môi trường, không ảnh hưởng sức khỏe người dân, ưu tiên công nghệ đơn giản, tiết kiệm năng lượng, giá thành phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Nghiên cứu, ứng dụng vật liệu mới, tận dụng nguyên vật liệu địa phương trong xây dựng công trình, bảo đảm chất lượng, kỹ thuật, mỹ quan và cảnh quan công trình. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát nguồn nước, chất lượng nước, thực hiện số hóa, tự động hóa công tác quản lý vận hành và bảo vệ công trình./.
Bùi Thảo