Những năm gần đây, thiên tai tại Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ, diễn biến ngày càng cực đoan, khó lường. Giai đoạn 2021-2025, trung bình mỗi năm nước ta chịu khoảng 10-12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, cùng hàng trăm đợt mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất. Trong 5 năm, thiên tai đã làm hơn 1.500 người thiệt mạng và mất tích, gây thiệt hại kinh tế lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.
Đáng chú ý, nhiều loại hình thiên tai xuất hiện với đặc điểm mới như lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi; mưa cực đoan tại đô thị; hạn hán, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các hiện tượng này thường xảy ra nhanh, phạm vi hẹp nhưng gây hậu quả nghiêm trọng và khó dự báo. Thực tiễn cho thấy, công tác dự báo và cảnh báo sớm chính là tuyến phòng thủ đầu tiên.
Trước yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong công tác phòng chống thiên tai, những năm gần đây, Việt Nam đã có bước tiến quan trọng trong quan trắc và dự báo thiên tai. Cùng với đó, công nghệ số, dữ liệu lớn và AI đang mở ra cơ hội đột phá trong giám sát thiên tai, giúp các địa phương sớm xây dựng mô phỏng rủi ro theo từng vùng để chủ động trước biến đổi khí hậu.
Ngoài dữ liệu vệ tinh, nhiều thiết bị tự động đo mưa, radar, cảm biến đo nhiệt độ, gió, mực nước, lưu tốc hay dịch chuyển đất đá cũng đang được triển khai, cho phép tích hợp thông tin nhanh hơn, mô phỏng chính xác hơn theo từng địa bàn và truyền tải kịp thời đến người dân.
Theo Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành khí tượng đã xây dựng mạng lưới 2.807 trạm khí tượng thủy văn quốc gia rộng khắp trên đất liền, hải đảo và vùng biển của Việt Nam với các công nghệ tiên tiến, hiện đại. Từ những trạm đo mưa, đo gió thủ công ban đầu, đến nay, tỷ lệ tự động hóa quan trắc khí tượng đạt 65%, đo mưa đạt 100%, giông sét đạt 100%, thủy văn đạt 69% và hải văn đạt 74%.
Hệ thống cảnh báo lũ quét được triển khai tại các địa phương, nhằm nâng cao năng lực chủ động ứng phó (Ảnh minh họa).
Mạng lưới ra đa thời tiết hiện cũng cơ bản bao phủ toàn quốc, đưa ngành khí tượng thủy văn tiệm cận dần với các nước trong khu vực và thế giới. Công tác cảnh báo, dự báo thiên tai ngày càng chính xác, kịp thời đã góp phần bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm nhẹ thiệt hại do các tai biến thiên nhiên gây ra như bão, lũ, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn...
Các mô hình dự báo số trị vận hành trên siêu máy tính cho phép cung cấp dữ liệu chi tiết đến lưới 3x3km; dự báo bão được thực hiện bằng tổ hợp nhiều mô hình toàn cầu và khu vực, kết hợp công nghệ đồng hóa dữ liệu. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Các mô hình học máy giúp cải thiện dự báo cường độ bão từ 10%-20% trong ngắn hạn; hệ thống nhận dạng bão tự động từ dữ liệu vệ tinh đạt độ chính xác trên 90%.
Trong dự báo dông, lốc, hệ thống tích hợp dữ liệu từ vệ tinh, ra-đa, định vị sét và trạm đo mưa có thể cảnh báo sớm từ 30 phút đến 3 giờ với độ chính xác 70%-90%. Các nền tảng cảnh báo lũ quét, sạt lở đất cũng đã được triển khai theo thời gian thực, cập nhật đến cấp xã. Công tác dự báo thủy văn tiếp tục được cải thiện, với khả năng dự báo lũ trên các sông khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ từ 12 giờ đến 48 giờ, Nam Bộ đến 5 ngày; cảnh báo sớm có thể đạt từ 2-4 ngày, thậm chí tới 10 ngày ở một số khu vực.
Tuy nhiên, công tác dự báo vẫn còn không ít hạn chế. Độ chính xác dự báo mưa lớn còn thấp; dự báo cường độ bão chưa có nhiều cải thiện trong dài hạn; thời gian dự báo đỉnh lũ còn ngắn. Đặc biệt, việc cảnh báo lũ quét, sạt lở đất đến từng vị trí cụ thể vẫn gặp khó khăn do thiếu dữ liệu quan trắc địa chất và địa hình theo thời gian thực. Bên cạnh đó, hạ tầng dữ liệu, mạng lưới quan trắc và nguồn nhân lực khoa học-công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế tài chính và chính sách thu hút nguồn lực cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ còn hạn chế.
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan, việc nâng cao năng lực dự báo chính xác và cảnh báo sớm là điều kiện tiên quyết để chính quyền cơ sở và người dân chủ động phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại. Trước yêu cầu thực tiễn, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường việc đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ hiện đại như AI, dữ liệu lớn (Big Data), viễn thám hay mô hình dự báo số độ phân giải cao sẽ mở ra hướng đi mới cho ngành khí tượng thủy văn.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực khí tượng thủy văn sẽ được thúc đẩy thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, hiện đại hóa hệ thống quan trắc, phát triển nền tảng cảnh báo sớm đa thiên tai và tăng cường chia sẻ dữ liệu. Một trong những yêu cầu quan trọng là cần đưa thông tin dự báo, cảnh báo đến người dân nhanh nhất, dễ tiếp cận nhất thông qua các nền tảng số, thiết bị di động và hệ thống truyền thông đa kênh.
Trong đó, ngành khí tượng thủy văn xác định tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, làm chủ công nghệ dự báo hiện đại, nâng cao chất lượng dự báo cường độ bão, định lượng mưa và cảnh báo lũ; đồng thời phát triển hệ thống cảnh báo sớm theo hướng chi tiết đến từng địa phương./.
Hồng Thắm
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/cong-nghe-so-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-du-bao-canh-bao-som-thien-tai.html