Trong khi nhiều mặt hàng có nguy cơ gây mất rừng như gỗ, cà phê, cao su, đậu tương hay dầu cọ đang chịu các yêu cầu kiểm soát ngày càng chặt chẽ thì hoạt động khai thác khoáng sản dù có tác động đáng kể tới rừng vẫn chưa được đặt trong một khung quản trị tương xứng.
Theo các chuyên gia, tác động của khai khoáng đến thảm thực vật và hệ sinh thái rừng ngày càng rõ nét, nhưng khoáng sản hiếm khi được nhìn nhận như một "mặt hàng có rủi ro mất rừng". Điều này tạo khoảng trống trong chính sách, khi chuỗi cung ứng khoáng sản chưa phải đáp ứng các yêu cầu tương đương về trách nhiệm bảo vệ và phục hồi rừng.
(Ảnh minh họa)
Sự thiếu vắng này tạo ra một khoảng trống pháp lý và chính sách lớn. Trong khi sản phẩm gỗ hay cà phê phải trải qua các quy trình giải trình trình tự nghiêm ngặt về nguồn gốc không gây mất rừng để tiến vào các thị trường khó tính, thì chuỗi cung ứng khoáng sản lại chưa chịu các ràng buộc tương đương về trách nhiệm bảo vệ và phục hồi rừng.
Các chuyên gia cho rằng, hoạt động khai khoáng có thể làm mất thảm thực vật, phá vỡ cấu trúc đất, chia cắt sinh cảnh, gia tăng nguy cơ sạt lở và ô nhiễm nguồn nước. Phân tích viễn thám cũng cho thấy sự suy giảm thảm phủ tại nhiều khu vực có hoạt động khai khoáng, trong khi hệ thống hạ tầng phục vụ khai thác có thể làm gia tăng sức ép lên các khu rừng lân cận.
Tại Việt Nam, các quy định về chuyển mục đích sử dụng rừng và ký quỹ phục hồi môi trường đã được ban hành, tuy nhiên việc thực thi vẫn còn những hạn chế. Công tác hoàn phục sau khai thác tại một số nơi chưa tái tạo được đầy đủ chức năng sinh thái của rừng và chưa gắn chặt với các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững.
Các chuyên gia cho rằng, đã đến lúc các cơ quan quản lý cần đổi mới tư duy, xem xét việc kiểm soát tác động của ngành khai khoáng tới rừng là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược bảo vệ rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu quốc gia. Đồng thời đề xuất, coi khoáng sản là đối tượng kiểm soát rủi ro mất rừng, xây dựng các bộ tiêu chuẩn giải trình trình tự và đánh giá tác động rừng bắt buộc đối với các dự án cấp phép khai thác khoáng sản; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản và cơ quan quản lý lâm nghiệp trong suốt vòng đời dự án khai khoáng, từ khâu quy hoạch, cấp phép đến khâu đóng cửa mỏ và hoàn phục môi trường.
Một giải pháp khác cũng được các chuyên gia đề cập là dựa vào tự nhiên để phục hồi các khu vực rừng bị tác động sau khai khoáng. Theo đó, việc áp dụng giải pháp tự nhiên không chỉ giúp tái tạo thảm thực vật bản địa và phục hồi hệ sinh thái bị tổn thương sau khai khoáng, mà còn mở ra cơ hội lớn giúp doanh nghiệp và địa phương tham gia vào thị trường carbon trong tương lai.
Các khu vực hoàn phục mỏ nếu được trồng rừng và phục hồi sinh thái đúng kỹ thuật sẽ tạo ra lượng hấp thụ carbon đáng kể. Lượng tăng trưởng trữ lượng carbon này có thể được đo đạc, báo cáo và thẩm tra để chuyển đổi thành tín chỉ carbon lâm nghiệp chất lượng cao. Đồng thời, mang lại lợi ích kép vừa hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ trách nhiệm xã hội và môi trường, vừa tạo ra nguồn tài chính bổ sung từ việc bán tín chỉ carbon trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo động lực kinh tế tự thân cho hoạt động tái thiết rừng sau khai khoáng…/.
BÙI HOÀNG