Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ tháng 6 đến giữa tháng 10/2026, dòng chảy trên hầu hết các sông, suối thuộc lưu vực Vu Gia - Thu Bồn thấp hơn trung bình nhiều năm từ 10-33%. Mặc dù đã xuất hiện một số đợt mưa lũ nhỏ trong tháng 9 và tháng 10, lượng nước tích trữ tại nhiều hồ chứa vẫn ở mức thấp. Các hồ thủy điện lớn như A Vương, Sông Bung 4, Đak Mi 4A và Sông Tranh 2 hiện chỉ đạt khoảng 15-22% dung tích thiết kế. Nhiều hồ thủy lợi có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên cũng mới tích được khoảng 40-70%.
Trong khi đó, dự báo những tháng cuối năm 2026, lượng mưa có thể tiếp tục thiếu hụt trên toàn lưu vực, dòng chảy thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 20-40%. Điều này làm gia tăng nguy cơ thiếu nước khi bước vào mùa cạn năm 2027. Nguồn nước từ các sông, suối và hệ thống hồ chứa thượng nguồn giữ vai trò quan trọng đối với việc cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, các hồ chứa lớn là nguồn điều tiết chủ yếu để duy trì dòng chảy, bảo đảm nhu cầu sử dụng nước tại hạ du trong suốt 8 tháng mùa cạn. Với hiện trạng nguồn nước và xu thế dự báo, nếu không tận dụng thời điểm còn mưa để tích trữ, nguy cơ thiếu hụt sẽ gia tăng, gây sức ép đối với hoạt động cấp nước sinh hoạt và sản xuất.
Lượng nước tích trữ tại nhiều hồ chứa tại thành phố vẫn ở mức thấp (Ảnh: HH).
Để chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng đề xuất Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu các chủ hồ thủy điện A Vương, Sông Bung 4, Đắk Mi 4A, Sông Tranh 2, Khe Diên và Sông Côn 2 (bậc 1) khẩn trương xây dựng kế hoạch vận hành linh hoạt, ưu tiên tích nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất ở hạ du.
Theo đó, các đơn vị cần xây dựng phương án vận hành theo từng giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026, xác định cụ thể mực nước hồ, lưu lượng nước dự kiến về hồ, lưu lượng xả sau công trình và mục tiêu tích nước cần đạt được. Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng tích đủ nước phục vụ mùa cạn năm 2027, đề xuất phương án điều tiết phù hợp nhằm bảo đảm nguồn nước cho các nhu cầu thiết yếu. Kế hoạch phải được gửi về UBND thành phố, thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường, trước ngày 1/11/2026 để tổng hợp, tham mưu chỉ đạo.
Trọng tâm của phương án là ưu tiên tích nước, từng bước đưa mực nước các hồ về mức quy định vào thời điểm bắt đầu mùa cạn, ngày 1/1/2027. Qua đó, tạo nguồn dự trữ cần thiết, đáp ứng nhu cầu cấp nước trong suốt 8 tháng mùa cạn. Tuy nhiên, quá trình tích nước phải được thực hiện linh hoạt, trên cơ sở theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, lượng mưa, dòng chảy đến hồ và các bản tin dự báo khí tượng thủy văn. Khi xuất hiện mưa lớn, lũ hoặc tình huống bất thường, các đơn vị phải kịp thời điều chỉnh chế độ vận hành, bảo đảm an toàn công trình và khu vực hạ du theo quy định.
Các địa phương khẩn trương triển khai đồng bộ giải pháp đảm bảo nguồn nước trước nguy cơ khô hạn.
Trước đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản đề nghị UBND TP. Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa chủ động xây dựng phương án tích nước hợp lý ngay từ mùa mưa năm 2026. Để chủ động nguồn nước cho năm 2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa, dòng chảy và dự báo khí tượng thủy văn để xây dựng kế hoạch tích nước phù hợp. Quá trình vận hành phải vừa bảo đảm an toàn công trình, phòng lũ hạ du, vừa tận dụng tối đa khả năng tích trữ, hạn chế xả thừa, tránh lãng phí nguồn nước.
Đặc biệt, đối với các hồ thủy điện A Vương, Sông Bung 4, Đak Mi 4A, Sông Tranh 2, Sông Bung 2, Sông Côn 2 bậc 1 và Khe Diên, kế hoạch vận hành phải ưu tiên dành dung tích bảo đảm nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu trong suốt 8 tháng mùa cạn năm 2027. Đây là những hồ chứa giữ vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, bổ sung nước cho hạ du sông Vu Gia - Thu Bồn. Vì vậy, việc vận hành cần gắn với nhu cầu sử dụng thực tế, phối hợp hài hòa giữa cấp nước và phát điện, nhất là trong thời điểm phụ tải tăng cao, vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa sử dụng hiệu quả nguồn nước dự trữ.
Đối với các hồ thủy lợi, Bộ đề nghị rà soát, điều chỉnh chế độ cấp nước ngay từ mùa mưa, xây dựng kế hoạch sử dụng phù hợp với khả năng tích trữ cuối mùa lũ. Các hồ Thái Xuân, Phú Ninh, Việt An, Hòa Trung và Vĩnh Trinh phải ưu tiên dung tích cho sinh hoạt và nguồn cấp dự phòng trong mùa cạn.
Trong đó, hồ Phú Ninh có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước sinh hoạt và sản xuất thiết yếu tại khu vực đông nam thành phố Đà Nẵng. Bộ yêu cầu đánh giá khả năng tích nước đến cuối mùa lũ, xác định mực nước tối thiểu cần duy trì theo từng thời kỳ, nhất là từ nay đến cuối năm 2026. Đồng thời, việc xả nước qua nhà máy thủy điện Phú Ninh phải được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với nhu cầu tưới thực tế ở hạ du, tránh gia tăng phát điện làm ảnh hưởng đến nguồn nước dự trữ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị thành phố triển khai đồng bộ các giải pháp điều hòa, phân phối và sử dụng nước trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, bảo đảm khai thác hiệu quả nguồn nước từ thượng nguồn đến hạ du. Trước hết, cần rà soát khả năng kiểm soát linh hoạt tỷ lệ phân lưu từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn qua sông Quảng Huế; đồng thời điều chỉnh chế độ khai thác tại các đập An Trạch, Hà Thanh, Thanh Quýt, Bàu Nít và các trạm bơm tưới phù hợp với kế hoạch vận hành hồ chứa thượng lưu.
Đặc biệt, cần sớm nâng cấp hệ thống thủy lợi An Trạch - Thanh Quýt - Bàu Nít - Hà Thanh và các công trình lấy nước trực tiếp trên sông, nhằm nâng cao khả năng cấp nước, giảm phụ thuộc vào chế độ điều tiết của các hồ chứa trong thời kỳ khan hiếm.
Đối với nước sinh hoạt, Bộ yêu cầu địa phương rà soát phương án cấp nước an toàn theo từng kịch bản nguồn nước, tăng cường kết nối hạ tầng, giảm thất thoát và chuẩn bị nguồn dự phòng cho các đô thị trọng điểm như Đà Nẵng, Tam Kỳ, Hội An.
Các nhà máy nước Duy Xuyên, Hội An cần chủ động phương án hỗ trợ cấp nước khi xảy ra xâm nhập mặn. Riêng Nhà máy nước Cầu Đỏ phải linh hoạt khai thác tại đập An Trạch và sông Cầu Đỏ, đồng thời tăng cường kết nối với các nhà máy nước Sân Bay, Hòa Liên. Trường hợp cần thiết, xem xét tăng công suất Nhà máy nước Hòa Liên để hỗ trợ khu vực thiếu nước.
Đối với sản xuất nông nghiệp, cần chủ động điều chỉnh mùa vụ, chuyển đổi cây trồng, xem xét giảm diện tích canh tác tại khu vực có nguy cơ thiếu nước. Các khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm phải rà soát nhu cầu, đẩy mạnh tiết kiệm, tuần hoàn và tái sử dụng nước./.
Hồng Mai