Nguyên tắc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon

09/04/2026 20:33

Trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon phải bảo đảm lợi ích quốc gia và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương nơi thực hiện chương trình, dự án.

Chính phủ ban hành Nghị định 112/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Theo đó, Nghị định 112 quy định về trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, hỗ trợ thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khác. Nghị định 112/2026 áp dụng đối với cơ quan, tổ chức thực hiện trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon.

Nghị định quy định trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon phải bảo đảm tuân thủ quy định của Thỏa thuận Paris; hỗ trợ phát triển, chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp tại Việt Nam; Ưu tiên thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong NDС của Việt Nam và các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính theo các điều ước quốc tế và cam kết quốc tế; Bảo đảm lợi ích quốc gia và hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia, có đóng góp cho sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương nơi thực hiện chương trình, dự án.

(Ảnh minh họa)

Hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế phải được ghi nhận, công bố trên Hệ thống đăng ký quốc gia của Việt Nam.

Theo Nghị định 112/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp văn bản chấp thuận chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon sau khi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp. Kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đã bị thu hồi, hoặc hết hiệu lực thì không được chuyển giao quốc tế. Việc điều chỉnh tương ứng đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được chuyển giao quốc tế (viết tắt là ITMO) giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế được thực hiện theo quy định của Thỏa thuận Paris.

Về tỷ lệ chuyển giao quốc tế, Nghị định 112/2026 quy định: Trường hợp chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa đối với lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được quy định 90% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 1 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này; 50% đối với các chương trình, dự án theo các biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thuộc danh mục số 2 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp chuyển giao quốc tế không điều chỉnh tương ứng, tỷ lệ chuyển giao tối đa là 90% lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được cấp cho một giai đoạn tạo kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon đối với tất cả chương trình, dự án. Lượng kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon còn lại sau khi chuyển giao quốc tế được phép sử dụng để trao đổi trong nước.

Căn cứ tình hình thực tiễn, bộ quản lý lĩnh vực đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính chuyển giao quốc tế tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Nghị định quy định cơ quan chủ quản chương trình, dự án đầu tư công quyết định việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đó. Việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công phải lấy ý kiến của bộ quản lý lĩnh vực, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức có liên quan. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến.

Nguồn thu từ việc trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon hình thành từ dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) được ghi nhận là doanh thu của dự án PPP và được quản lý theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đối với các dự án PPP đã được ký kết hợp đồng dự án và/hoặc có phương án tài chính mà có nhu cầu trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon thì cơ quan ký kết hợp đồng và nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh hợp đồng dự án PPP và/hoặc phương án tài chính.

Khoản tiền thu được từ việc bán kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon từ các chương trình, dự án đầu tư công là khoản thu ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước…/.

 

THANH BÌNH

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/nguyen-tac-trao-doi-quoc-te-ket-qua-giam-nhe-phat-thai-khi-nha-kinh-tin-chi-carbon.html

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuẩn hoá vùng chè

Để nâng cao giá trị ngành chè, thời gian qua tỉnh Thái Nguyên triển khai các mô hình công nghệ tiên tiến gắn với chuẩn hóa vùng trồng. Việc này vừa cải thiện năng suất, vừa tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường chất lượng cao một cách bền vững.

Chuyển đổi số góp phần quảng bá du lịch Hà Nội

Ngành du lịch của TP.Hà Nội đang bước vào kỷ nguyên số, nơi thông tin, hình ảnh và dịch vụ được kết nối, đưa nét đẹp văn hóa, lịch sử và ẩm thực tới gần du khách hơn bao giờ hết. Nhờ chuyển đổi số, Hà Nội không chỉ số hóa thông tin điểm đến mà còn tạo trải nghiệm tương tác sống động, biến mỗi hành trình khám phá thành câu chuyện hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế.

Công nghệ hiện đại tạo đột phá cho ngành chăn nuôi

Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đang tạo bước phát triển mạnh mẽ cho ngành chăn nuôi của tỉnh Vĩnh Long, góp phần nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa nguồn lực. Từ đó mở ra hướng đi bền vững, an toàn và hiệu quả cho nông nghiệp địa phương.