Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuẩn hoá vùng chè

06/04/2026 21:02

Để nâng cao giá trị ngành chè, thời gian qua tỉnh Thái Nguyên triển khai các mô hình công nghệ tiên tiến gắn với chuẩn hóa vùng trồng. Việc này vừa cải thiện năng suất, vừa tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường chất lượng cao một cách bền vững.

Theo thống kê, toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có gần 24.000ha chè, sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt trên 280.000 tấn; với cùng nhiều vùng chè danh tiếng như: Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc, Bằng Phúc... Những con số này khẳng định chè là ngành hàng chủ lực, là lợi thế nổi trội của địa phương.

Tuy nhiên, khi thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm, việc tổ chức lại vùng chè nguyên liệu theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, gắn chặt với chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu cấp thiết.

Đây cũng là nội dung quan trọng trong Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm, việc tổ chức lại vùng chè nguyên liệu theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, gắn chặt với chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu cấp thiết.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên, đánh giá: Diện tích chè những năm qua tăng trưởng tốt nhưng sản xuất nhỏ lẻ vẫn phổ biến, sử dụng nhiều lao động. Vì vậy, các giải pháp ưu tiên tập trung vào quy hoạch vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết sản xuất, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và hỗ trợ cơ giới hóa trong sản xuất, chế biến. Việc tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại, minh bạch, gắn chặt với thị trường sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên.

Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định rõ yêu cầu chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo tiêu chuẩn; từ lợi thế tự nhiên sang lợi thế cạnh tranh dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong tiến trình đó, vùng nguyên liệu có tổ chức giữ vai trò nền tảng.

Do đó tỉnh sẽ rà soát hiện trạng đất đai, lợi thế của từng địa phương để xác lập, quy hoạch các vùng sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cho chế biến; đồng thời số hóa các vùng sản xuất theo quy hoạch để quản lý và áp dụng đồng bộ quy trình.

Khi vùng nguyên liệu được xác lập rõ ràng, được quản lý bằng tiêu chuẩn và dữ liệu, chất lượng sản phẩm sẽ ổn định hơn. Song hành với quy hoạch là tổ chức lại sản xuất. Các hộ trồng chè cần tham gia các hình thức liên kết như: HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX và chuỗi liên kết với doanh nghiệp. HTX giữ vai trò đầu mối tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát quy trình, tập hợp sản lượng và kết nối thị trường. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, đặt ra yêu cầu chất lượng và gắn sản xuất với nhu cầu chế biến, tiêu thụ.

Thái Nguyên xác định ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số là công cụ quan trọng để thúc đẩy ngành hàng chè có nhiều đột phá. 

Lãnh đạo UBND xã La Bằng, cho biết: Là vùng chè nổi tiếng của tỉnh, địa phương chú trọng quản lý, quy hoạch vùng sản xuất chè tập trung, khuyến khích chuyển đổi diện tích đất nông, lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng chè. Thực tế từ các HTX chè cũng cho thấy nhu cầu cấp thiết của việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung.

Vùng nguyên liệu khi được tổ chức tốt sẽ tạo ra đầu vào đồng đều, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ, mở rộng chế biến sâu và phát triển các dòng sản phẩm giá trị cao. Đây là mối quan hệ có ý nghĩa quyết định đối với tương lai ngành chè Thái Nguyên. Nghị quyết số 11-NQ/TU đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn tỉnh có 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng;

Cùng với đó 100% doanh nghiệp, HTX có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong canh tác, quản lý chuỗi và truy xuất nguồn gốc; 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên các nền tảng thương mại điện tử. Đây là những thước đo cụ thể của quá trình chuẩn hóa và hiện đại hóa vùng nguyên liệu. Khi vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp và HTX có điều kiện đầu tư nhà máy chế biến tại các vùng chè tập trung, phát triển sản phẩm chế biến sâu, mở rộng phân khúc giá trị cao.

Khi có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu số, sản phẩm chè đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu. Đại diện Hội Chè Thái Nguyên cho rằng, việc tổ chức tốt vùng nguyên liệu sẽ thúc đẩy tái cơ cấu, nâng cao chuỗi giá trị trà và tạo thêm động lực để sản phẩm chè của tỉnh mở rộng thị trường.

Để ngành chè có nhiều đột phá, Thái Nguyên phấn đấu mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 24.500ha; sản lượng chè búp tươi: Trên 300.000 tấn. 100% các doanh nghiệp, HTX chè có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số. 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên nền tảng thương mại điện tử. Ít nhất 250 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3-5 sao, trong đó có ít nhất 6 sản phẩm đạt OCOP 5 sao…

Thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuẩn hóa vùng chè tại Thái Nguyên đang mở ra hướng đi chiến lược cho ngành nông nghiệp địa phương. Những nỗ lực này không chỉ tập trung vào tăng năng suất mà còn nâng cao chất lượng, ổn định đầu ra và xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên uy tín trên thị trường trong và ngoài nước. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý sinh trưởng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến giúp giảm lãng phí, tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo sản phẩm đồng đều, đạt tiêu chuẩn cao.

Đồng thời, việc chuẩn hóa vùng trồng tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý vùng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp. Kết hợp giữa công nghệ và quy hoạch vùng trồng cũng giúp người dân tiếp cận các phương pháp canh tác hiện đại, nâng cao kỹ năng và tăng thu nhập.

Những bước đi này minh chứng cho tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong phát triển nông nghiệp bền vững. Trong tương lai, khi các giải pháp công nghệ và chuẩn hóa vùng trồng được triển khai đồng bộ, ngành chè Thái Nguyên sẽ tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường, đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương trong giai đoạn hiện tại và tiếp theo.

 

Tuấn Anh

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/day-manh-ung-dung-cong-nghe-chuan-hoa-vung-che.html

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Chuyển đổi số góp phần quảng bá du lịch Hà Nội

Ngành du lịch của TP.Hà Nội đang bước vào kỷ nguyên số, nơi thông tin, hình ảnh và dịch vụ được kết nối, đưa nét đẹp văn hóa, lịch sử và ẩm thực tới gần du khách hơn bao giờ hết. Nhờ chuyển đổi số, Hà Nội không chỉ số hóa thông tin điểm đến mà còn tạo trải nghiệm tương tác sống động, biến mỗi hành trình khám phá thành câu chuyện hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế.

Công nghệ hiện đại tạo đột phá cho ngành chăn nuôi

Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đang tạo bước phát triển mạnh mẽ cho ngành chăn nuôi của tỉnh Vĩnh Long, góp phần nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa nguồn lực. Từ đó mở ra hướng đi bền vững, an toàn và hiệu quả cho nông nghiệp địa phương.

Siết chặt quản lý, bảo vệ rừng bằng công nghệ số

Trước tình trạng gia tăng áp lực lên tài nguyên rừng, tỉnh Điện Biên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Giải pháp này giúp phát hiện sớm vi phạm, tối ưu hóa quản lý tài nguyên rừng và hướng tới phát triển lâm nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.