Sau nhiều năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu. Tuy nhiên, sự đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của một quốc gia có trên 3.200km bờ biển và diện tích biển hơn 1 triệu km2.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước. Điển hình là những giao thoa, bất cập giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các bộ luật chuyên ngành khác như Luật Điện lực, Luật Hàng hải. Sự thiếu thống nhất này không chỉ làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính phức tạp mà còn tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp, khiến các dự án kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi hay nuôi trồng thủy sản biển xa bờ gặp khó khăn khi triển khai thực tế.
(Ảnh minh họa)
Để giải quyết các bất cập nêu trên trong phát triển kinh tế biển, Cục Biển và Hải đảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh đến những điểm mới mang tính đột phá trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Theo đó, điểm cốt lõi của lần sửa đổi này là việc chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy quản lý tài nguyên đơn lẻ sang quản trị tổng hợp không gian biển. Dự thảo luật mới nhìn nhận biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà là một không gian phát triển đa mục tiêu, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Đáng chú ý, dự thảo lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung cơ chế đấu giá quyền sử dụng khu vực biển và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Điều này giúp hạn chế cơ chế "xin - cho", tăng tính minh bạch và tạo môi trường pháp lý ổn định, lâu dài cho các nhà đầu tư lớn. Bên cạnh đó, các cơ chế ưu đãi đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế carbon thấp và logistics biển cũng được đề xuất để kiến tạo động lực phát triển mới.
Về bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế biển, tư duy quản lý cũng có sự thay đổi. Theo đó, chuyển từ xử lý ô nhiễm sau sự cố sang phòng ngừa từ sớm, từ nguồn. Việc ứng dụng công nghệ số, AI và dữ liệu lớn sẽ được tăng cường để phục vụ công tác quan trắc và quản trị biển hiện đại.
Các chuyên gia đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển trong bối cảnh mới. Theo đó, cần đổi mới tư duy và quản trị, chuyển sang quản trị không gian biển tổng hợp dựa trên hệ sinh thái; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua các cơ chế điều phối liên ngành mạnh mẽ.
Hoàn thiện thể chế với trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo pháp luật, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi. Huy động nguồn lực bằng thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư (PPP) và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Đột phá khoa học công nghệ với ưu tiên chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và ứng dụng AI trong quản lý biển. Ngoài ra, cần phát triển ngành hiện đại bằng cách tập trung vào du lịch chất lượng cao, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi và các ngành mới như hydrogen, dược liệu biển. Hạ tầng và không gian sẽ hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, đô thị biển thông minh và hệ thống cảng biển kết nối liên vùng.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh việc bảo vệ môi trường và sinh kế, đảm bảo đời sống bền vững cho cư dân ven biển gắn liền với việc phục hồi hệ sinh thái; Quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền, chủ động tham gia quản trị biển toàn cầu; Việc kiểm tra, giám sát bằng cách xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả thực thi chính sách biển một cách minh bạch…/.
HOÀI AN
Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốchttps://thiennhienmoitruong.vn/de-xuat-huy-dong-nguon-luc-bang-thuc-day-tai-chinh-xanh-trong-phat-trien-kinh-te-bien.html