Lai Châu nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước

30/03/2026 21:49

Trước tác động của biến đổi khí hậu cùng với nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, tỉnh Lai Châu triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác bền vững tài nguyên nước.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Lai Châu, nguồn nước mặt của tỉnh tương đối phong phú thể hiện qua: tổng lượng nước mưa năm tạo ra trên địa bàn tỉnh là 23,61 tỷ m3/năm; tổng lượng tài nguyên nước mặt nội tỉnh là 13,44 tỷ m3/năm.. Địa phương này có tổng lượng nước tích trữ trong 3 hồ thủy điện: Lai Châu, Bản Chát, Huội Quảng là 3.442 triệu m³; 17 hồ chứa nước thủy lợi có dung tích trên 1 triệu m³, cơ bản đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát điện theo thiết kế. 

Mặc dù nguồn tài nguyên nước tương đối phong phú, nhưng nguồn nước của tỉnh chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn từ các sông bên Trung Quốc và các tỉnh lân cận. Mặt khác, do đặc điểm địa hình của tỉnh phân cắt, độ dốc lớn, nguồn nước phân bố không đều, lượng nước tích trữ tập trung tại các hồ thủy điện lớn, một số khu vực vùng cao  lượng nước vào mùa khô xuống thấp. Thêm vào đó, biến đổi khí hậu đã tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán gây thiếu hụt lượng nước. 

Trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trong các tháng cao điểm nắng nóng, tỉnh Lai Châu đã chủ động kế hoạch khai thác, sử dụng nguồn nước trong từng lĩnh vực. Đối với việc khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực đô thị: Thường xuyên kiểm tra, bảo trì, bảo dưỡng các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị, bảo đảm vận hành liên tục, ổn định, hạn chế sự cố, rò rỉ, thất thoát, lãng phí nước;

Chủ động tìm kiếm, bổ sung nguồn nước đối với các trạm có nguy cơ thiếu nước, gồm: Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Phong Thổ (cụm Pa So), Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Bình Lư, Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt Hua Nà. Riêng Nhà máy nước trạm Tả Lèng, thực hiện khai thác tối đa công suất các trạm cấp nước Nậm Loỏng, Nùng Nàng để bổ sung lượng nước thiếu hụt trong thời gian cao điểm mùa khô.

Đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng mà các địa phương đẩy mạnh triển khai. 

Đối với nhiệm vụ cấp nước sạch nông thôn: Các đơn vị quản lý, vận hành tổ chức kiểm tra, vệ sinh khu vực cửa lấy nước, hệ thống dẫn nước; giảm thiểu thất thoát, lãng phí nước. Trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, nghiên cứu, đề xuất phương án cấp nước bổ sung hoặc thay thế nguồn cấp, bảo đảm lưu lượng và chất lượng nước hợp vệ sinh.

Để đảm bảo nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, các đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi xây dựng kế hoạch canh tác, kế hoạch lấy nước tưới phù hợp với mùa vụ, bám sát kịch bản nguồn nước và kế hoạch này; Đối với các công trình thủy lợi phía hạ du các nhà máy thủy điện, tổ chức lấy nước theo giờ phát điện, phối hợp chặt chẽ với đơn vị vận hành thủy điện;

Ưu tiên bảo đảm nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, đề nghị các hồ thủy điện xả dòng chảy tối thiểu đúng quy định trong giấy phép khai thác nước mặt; Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng nước, xã hội hóa quản lý công trình; củng cố, phát triển các tổ chức quản lý thủy lợi cơ sở. Đẩy mạnh kiên cố hóa kênh mương, áp dụng các công nghệ tưới tiết kiệm nước, phát triển các hồ thủy lợi theo hướng đa mục tiêu (tưới, tiêu, thủy sản, du lịch, phòng chống thiên tai). 

Để đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất điện: Đối với 3 công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, bảo đảm sẵn sàng vận hành theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia. Đối với các thủy điện điều tiết ngày, duy trì mực nước không thấp hơn mực nước chết, không vượt mực nước dâng bình thường; căn cứ lưu lượng nước về hồ và lệnh điều độ để vận hành phát điện phù hợp, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước; Trường hợp mực nước hồ ở mực nước chết và lưu lượng nước về hồ không đáp ứng yêu cầu vận hành tối thiểu, nhà máy tạm dừng phát điện. 

Tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước tạo điều kiện để địa phương phát triển kinh tế-xã hội bền vững. 

Việc gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa dẫn đến nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, kéo theo nguy cơ ô nhiễm, suy thoái, khan hiếm, cạn kiệt nguồn nước. Đặc biệt, trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, người dân sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón quá mức quy định, nước thải, chất thải từ hoạt động chế biến nông sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… không được xử lý đã tạo cho môi trường nước có phần bị ô nhiễm.

Trước thực trạng trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản quản lý, chỉ đạo về bảo vệ, giữ gìn tài nguyên nước. Phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước; ban hành kế hoạch và tổ chức thành công hội nghị phổ biến, tuyên truyền Luật Tài nguyên nước và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Sở ban hành văn bản hướng dẫn, đôn đốc thực hiện các quy định của pháp luật về tài nguyên nước đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước để cấp cho sinh hoạt; công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải đăng ký, phải có giấy phép và hướng dẫn xác định thời điểm hiệu lực giấy phép khai thác sử dụng tài nguyên nước. Hướng dẫn thẩm quyền cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; yêu cầu thực hiện duy trì lưu lượng xả thường xuyên, liên tục sau đập của các dự án khai thác, sử dụng nước mặt và các giải pháp giảm thiểu nguy cơ thiếu nước trong mùa khô trên địa bàn tỉnh.

Để đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân, UBND tỉnh yêu cầu UBND các xã, phường tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn; chủ động xây dựng phương án cụ thể tại địa phương phù hợp với điều kiện nguồn nước, đặc biệt trong thời gian cao điểm mùa khô. Rà soát hiện trạng các công trình khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trên địa bàn; kịp thời phát hiện, báo cáo nguy cơ thiếu nước, đề xuất giải pháp điều hòa, bổ sung nguồn nước khi cần thiết.

Chỉ đạo quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt thuộc thẩm quyền quản lý của cấp xã bảo đảm cấp nước tiết kiệm, hiệu quả, ưu tiên nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp thiết yếu. Chủ động tìm kiếm, huy động các nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước; phối hợp với các đơn vị quản lý công trình thủy lợi, thủy điện trên địa bàn để điều hòa, phân phối nguồn nước hợp lý.../.

 

Lê Vân 

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/lai-chau-nang-cao-hieu-qua-khai-thac-su-dung-tai-nguyen-nuoc.html

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Chi tạm ứng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương

Chính phủ giao Bộ Công Thương xây dựng, quyết định các kịch bản điều hành giá xăng dầu trong nước, bao gồm tính toán thời gian sử dụng và trích lập Quỹ BOG xăng dầu để hoàn trả ngân sách Nhà nước (NSNN) theo quy định sau khi giá thế giới giảm, thị trường xăng dầu ổn định; thời gian hoàn trả tối đa 12 tháng kể từ ngày Bộ Công Thương có Quyết định trích lập Quỹ để hoàn trả NSNN (Bộ Công Thương xây dựng phương án, kế hoạch cụ thể về việc thu hồi NSNN để báo cáo Chính phủ).

Ứng dụng công nghệ sinh học và công nghệ môi trường giúp tối ưu hóa chuỗi giá trị chăn nuôi

Dư địa phát triển của ngành vẫn còn lớn nhưng đi kèm với nhiều thách thức. Biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến phức tạp cùng với đặc thù sản xuất nhỏ lẻ khiến ngành phải đối mặt với áp lực chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình phát triển bền vững, đảm bảo an toàn sinh học và thân thiện môi trường.

Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trong giai đoạn 2026-2030

Trong lĩnh vực đô thị và môi trường, Hà Nội đặt mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa đạt 65-70%, vận tải hành khách công cộng đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu đi lại, hoàn thành khoảng 120.000 căn nhà ở xã hội. 100% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý đạt chuẩn; tỷ lệ ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình đạt trên 80%.