Hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn về sản xuất sữa

26/02/2026 20:42

Định hướng trong thời gian tới, ngành sữa từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã và cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả.

Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (vừa được Chính phủ phê duyệt) đề ra định hướng phát triển ngành sữa trong thời gian tới. Theo đó, đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng nguồn sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua việc nâng cấp các dự án hiện có, ứng dụng công nghệ hiện đại, thiết bị dây chuyền tự động hóa ở mức cao, ưu tiên đầu tư phát triển các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò lấy sữa đến các sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Cánh đồng cỏ rộng lớn phục vụ chăn nuôi bò sữa theo hướng hữu cơ. 

Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sữa toàn cầu.

Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững với quy mô hợp lý, chất lượng giống đàn bò được cải thiện, dần chủ động được giống bò sữa trong nước cho năng suất sữa cao. Từng bước ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu sữa phục vụ chế biến. Đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi sản xuất sữa nguyên liệu và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển nhằm ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu sữa Việt Nam.

Về thị trường, đối với thị trường trong nước: Đẩy mạnh đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về giá trị của sữa theo hướng ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội nhằm phát huy tối đa hiệu quả các kênh phân phối, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng.

Từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã và cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả. Song hành với phát triển thị trường sản phẩm cần có các chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.

Đối với thị trường xuất khẩu: Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tăng cường công tác nghiên cứu, tìm kiếm và phát triển thị trường mới. Đẩy mạnh công tác đàm phán kỹ thuật thú y, mở rộng thị trường nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tập trung khai thác hiệu quả các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các cam kết quốc tế khác, đồng thời chủ động tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường.

Đẩy mạnh hoạt động xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sữa Việt Nam, phát triển chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm sữa chế biến. Hỗ trợ doanh nghiệp ngành sữa trong các vấn đề pháp lý, giải quyết tranh chấp thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tham gia vào thị trường quốc tế. Nghiên cứu tiếp cận nhập khẩu công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển ngành sữa trong nước. Đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tìm kiếm, lựa chọn và khai thác các thị trường uy tín, đảm bảo ổn định nguồn cung chất lượng với giá thành cạnh tranh, nhập khẩu sản phẩm sữa trong nước còn thiếu, chưa chế biến được phù hợp với thị hiếu người Việt. Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất, chế biến sữa ở các nước có điều kiện phát triển, để cân đối những phần sữa còn thiếu hụt cho thị trường trong nước…/.

 

THIÊN LÝ

Nguồn thiennhienmoitruong.vn
Link bài gốc

https://thiennhienmoitruong.vn/hinh-thanh-cac-doanh-nghiep-co-quy-mo-lon-ve-san-xuat-sua.html

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh sau kỳ nghỉ Tết Bính Ngọ 2026

Ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Chính phủ yêu cầu triển khai các hoạt động Tết trồng cây, phòng, chống thiên tai, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước, động vật hoang dã... Theo dõi chặt chẽ thông tin dự báo thời tiết, khí tượng thủy văn, quy trình vận hành liên hồ chứa, kế hoạch điều tiết nước để triển khai kế hoạch sản xuất phù hợp, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân.

Ngành Công nghiệp môi trường Việt Nam 2026: Chuyển dịch thể chế, dòng vốn xanh và xu hướng công nghệ

Ngành công nghiệp môi trường Việt Nam năm 2026 bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc, chuyển từ lĩnh vực mang tính tuân thủ hành chính sang một cấu phần kinh tế có hàm lượng vốn và công nghệ cao. Áp lực suy thoái môi trường tích lũy, cùng hiệu lực của Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và các nghị định hướng dẫn, đã định hình lại cấu trúc thị trường theo hướng chuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa quản trị. Dòng vốn xanh từ hợp tác quốc tế, đặc biệt JETP và khung phân loại xanh quốc gia, thúc đẩy đầu tư vào xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn, kiểm soát ô nhiễm không khí và tái chế. Thị trường ghi nhận sự gia tăng vai trò của doanh nghiệp tư nhân và các tập đoàn có năng lực triển khai dự án hạ tầng quy mô lớn, hoàn vốn dài hạn. Công nghệ tiên tiến được tiếp nhận trực tiếp nhằm đáp ứng tiêu chuẩn môi trường quốc tế, đưa ngành môi trường trở thành trụ cột mới trong cấu trúc tăng trưởng xanh và bền vững của Việt Nam.